Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2022

Đọc thêm về sao Thái Âm trong Tử Vi

 SAO THÁI ÂM



Thuộc Thủy, Nam Bắc Đẩu tinh, tượng là mặt trăng trên trời, hóa Phú, chủ Tiền Bạch, Điền Trạch. Thái Âm chủ Phú, sau mới chủ Quý. Người nam thì ứng với mẹ, vợ, con gái; người nữ thì ứng với mẹ, con gái.


Thái Âm cư Mệnh thay đổi ánh sáng theo thời gian, như Thái Âm ở cung Tý tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Tý, Thái Âm ở giờ Dậu tượng trưng cho mặt trăng ở giờ Dậu, lần lượt suy tiếp.


Thái Âm nhập mệnh cung, mặt vuông tròn, thân hình trung bình, hơi béo, da trắng sáng. Tính tình dịu dàng, thanh tú cương trực, thông minh tuấn tú, khí chất bên ngoài tốt, đoan chính, khiêm tốn lễ độ, suy nghĩ tinh tế, biết cách cư xử thỏa đáng trong giáo tiếp, tránh được xung đột chính diện, xử lý tốt đẹp các mối quan hệ. Bất luận miếu hãm, đều có sự tu dưỡng về phương diện văn học nghệ thuật, văn hay chữ tốt, học nhiều đa năng. Ưa sạch sẽ, chú ý đến sự thú vị của cuộc sống, là người theo chủ nghĩa duy mỹ. Tính tình thích tĩnh, có hứng thú với triết học, tâm lý học, mỹ học, thần bí học, thích trầm tư, suy nghĩ kĩ càng, giàu trí tưởng tượng, tư duy siêu thực, thậm chí nhiều lúc có xu hướng đa sầu đa cảm. Đa phần tưởng tượng rất lãng mạn về cuộc sống. Nam nữ đều có duyên sắc sắc với người khác giới, dễ phạm đào hoa. Nam nữ phong lưu hào phóng, nho nhã, trực tính gấp gáp, dễ thân thiết với nữ giới, cử chí có lúc bị nữ tính hóa, ẻo lả, đồng cung với sát tinh thì không nhất thiết như vậy.


Nữ mệnh mắt ngọc mày ngà, dung mạo đẹp đẽ, mềm mại như sương, khiến nam giới phải đắm say.


1. Thái Âm thủ mệnh, hỉ người sinh ban đêm, người sinh ban ngày tốt nhất không nên lâm cung lạc hãm, hãm thì khắc mẹ, nam thì khắc vợ. Thái Âm hóa Kỵ nếu như đồng thủ với sát tinh, tất mẹ mất trước. Sinh vào buổi đêm, Thái Âm tuy ở hãm địa nhưng không luận là hung; nếu sinh ban ngày, Thái Âm ở miếu vượng địa cũng không gọi là đẹp hoàn toàn.


2. Thái Âm hỉ có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt Lộc Tồn thủ chiếu cát hóa, nhập miếu hội nhiều cát tinh thì phú quý.


3. Thái Âm ở cung thân, chủ có mẹ kế, hay theo mẹ tái hôn, xa quê làm con thừa tự, cung thân cư thiên di cung, Thái Âm lạc hãm, luận như trên. Hoặc Thái Âm ở cung thân hãm địa, đồng cung với Tứ sát, hoặc đồng cung với một trong Phụ Bật Khôi Việt cũng luận như trên.


4. Thái Âm cư cung mệnh hay cung thân, miếu vượng, chủ một đời vui vẻ. Hội sát tinh thủ, một đời không vui vẻ.


5. Thái Âm thủ mệnh, lạc hãm, đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh, cơ thể thương tật. 


6. Thái Âm Lộc Tồn đồng cung, Tả Hữu tương phùng phú quý.


7. Thái Âm đồng cung với Kình Đà, chủ tán tiền bạc.


8. Thái Âm đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc, cảm giác mẫn duệ, tri thức phong phú, giỏi nghề, có sở trường chuyên môn hay kĩ thuật, giàu tài hoa nghệ thuật, dễ thành danh. Thái Âm lạc hãm, đồng cung với Văn Khúc mà không hội Văn Xương thì là bậc thuật sĩ phiêu bạt.


9. Thái Âm và Tứ sát đồng cung tọa mệnh, chủ người gian trá, tính toán, Thái Âm lạc hãm lại hội Tứ sát hình kỵ thì ham tửu sắc, dâm dật, có nhiều âm mưu, tâm địa hiểm độc.


10. Thái Âm hóa Lộc, tốt đẹp, duyên với người khác phái tốt, một đời tiền bạc vượng, nhiều bất động sản, Thái Âm nhập miếu vượng thì đặc biệt tốt. Hãm địa thì có khẩu thiệt thị phi. Nữ mệnh dịu dàng, có cách thu vén gia đình, giàu có.


11. Thái Âm hóa Quyền, tốt đẹp, nắm tiền tài quyền lực, có thể vượng phát, Thái Âm miếu vượng đặc biệt tốt, hãm địa không hội sát tinh cũng có thể luận là tốt.


12. Thái Âm hóa Khoa, nhiều sở trường kĩ nghệ, làm việc hợp lý, có đào hoa, danh vọng cao, tài vận tốt.


13. Thái Âm hóa Kỵ, nếu Thái Âm lạc hãm địa đại hung, một đời không thuận lợi nhiều tai họa, tình yêu nhiều điều không như ý, chậm hôn, thân thể nhiều bệnh. Nhập miếu không sợ Hóa Kỵ, còn gọi là “biến cảnh”, tăng phần tốt đẹp


>>>Thái Âm tại 12 cung


Thái Âm đến Tý, gọi là "Thiên cơ". Chủ về nữ mệnh vinh hóa phú quý, có duyên với người, suy nghĩ sâu sắc, giỏi mưu kế.


Thái Âm đến Sửu, gọi là "Thiên khố". Nhật Nguyệt tương hội, tính tình hào sảng, quan cao lộc hậu.


Thái Âm đến Dần, gọi là "Thiên muội". Mặt trời mới mọc, mặt Trăng mất sáng, chủ về người có tính do dự, tiến thoái không quyết đoán.


Thái Âm đến Mão, gọi là "Phản bối". Gặp cát diệu chủ về đại phú.


Thái Âm đến Thìn, gọi là "Thiên thường". Ưa tương hội với tinh diệu thuộc Kim. Nếu hội chiếu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì chủ về làm lãnh đạo, tham dự triều chính, tay nắm quân cơ đại quyền, danh lừng bốn biển. Đây là cách "Âm tinh nhập thổ" (Tinh túy của âm khí nhập vào đất)


Thái Âm đến Tị, gọi là "Thiên hưu", còn gọi là "Thất điện". Chủ về có tật ở mắt, cận thị, hoặc có chồng hữu danh mà vô thực nhưng xa cách, hoặc chồng giỏi lo cho người mà không thích lo cho nhà. Nếu gặp tam hóa Khoa Quyền Lộc thì lại chủ về hưởng thụ phú quý.


Thái Âm đến Ngọ, gọi là "Thiên y", hoặc gọi là "Hàn nguyệt". Chủ về người có tình cảm phong phú, nhiều ảo tưởng, tự tác đa tình, không lợi cho nguyên phối.


Thái Âm đến Mùi, gọi là "Thiên khuê". Nhật Nguyệt đồng độ, tính tình hào sảng, thẳng thắn, nhưng chợt dương chợt âm, và không lợi cho mẹ.


Thái Âm đến Thân, gọi là "Thiên hoàng", chủ về người phúc đầy lộc trọng, sự nghiệp lớn lao, khéo ứng biến, có quyền biến, giầu hùng tâm, suy tưởng phong phú.


Thái Âm đến Dậu, gọi là "Thiên tường", chủ về phú quý.


Thái Âm đến Tuất, gọi là "Thiên trợ", là cách "Nguyệt chiếu hàn đàm" (trăng rọi đầm lạnh). Đây chính là lúc thỏ ngọc phát ánh sáng, là thượng cách.


Thái Âm đến Hợi, gọi là "Nguyệt lãng thiên môn" (Trăng sáng cửa trời), chủ về đại phú, hoặc được tiền của bất ngờ, còn gọi là cách "Triều thiên" (chầu trời), nhiều mưu kế, giỏi vạch kế hoạch sách lược.

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2022

Đọc thêm về: Nhất cận thị, Nhị cận lân, Tam cận giang, Tứ cận lộ, ngũ cận điền theo quan điểm ngày nay


 

Từ xa xưa ông cha ta đã đúc kết lên kinh nghiệm để lựa chọn được một nơi an cư lập nghiệp tốt dựa vào 5 yếu tố, 5 cái cận (ngũ cận) đó là “nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền”:

1. Nhất cận thị

Thị ở đây hiểu theo nghĩa là chợ, cận thị có nghĩa là gần chợ. Trong không gian sống xa xưa thì chợ là nơi giao thương mua bán trao đổi tất cả các loại hàng hóa cần thiết đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống của người dân. Theo thời gian và sự phát triển của xã hội thì nhu cầu cuộc sống của người dân không ngừng mở rộng, nó không chỉ là những hàng hóa vật chất đơn thuần mà giờ đây những nhu cầu này còn là những sản phẩm dịch vụ, những tiện ích như siêu thị hay các trung tâm thương mại sầm uất…

Việc sống gần các đô thị, siêu thị giúp cư dân dễ dàng tiếp cận với các tiện nghi như trung tâm thương mại, cơ sở y tê, trường học chất lượng cao, văn hóa giải trí đa dạng và hiện đại.

 2. Nhị cận lân

Cận lân là sự gần gũi, tương giao với những nhà hàng xóm láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau. Hiện nay, tại các thành phố, hay trong các khu đô thị thì khái niệm hàng xóm đã có nhiều thay đổi, do vậy “cận lân” lúc này chính là sự tương đồng trong văn hóa và đẳng cấp sống của các thành viên trong cộng đồng với các sản phẩm được dự báo là để có thể sở hữu được chúng khách hàng sẽ phải trả một mức giá rất cao, cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của các sản phẩm bất động sản khác trong khu vực. Mức giá cao này vô hình chung tạo ra một sự sàng lọc và đảm bảo về chất lượng cư dân cho cả khu đô thị.

3. Tam cận giang

Giang là sông, là con đường giao thông đường thủy. Giang cũng là mặt nước là một yếu tố phong thủy tạo sự tuần hoàn và sinh khí. Từ hàng ngàn năm trước, con người đã biết dựa vào các dòng sông lớn để sinh sôi này nở, an cư lạc nghiệp, sông giúp con người phát triển thương nghiệp, giao lưu văn hóa, khoa học nghệ thuật. Từ đó hình thành nên các nền văn mình như sông Nill, sông Mekong, song Ấn, sông Hoàng Hà …

Giờ đây, nền kinh tế đã phát triển, phương tiện kết nối đa dạng hơn, con người không còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nữa. Tuy nhiên yếu tố Cận Giang vẫn được được coi là yếu tố đặc biệt giúp con người lựa chọn nhà ở, những căn hộ gần sông, hồ thường có tầm nhìn đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ. Đặc biệt trong phong thủy – Thủy được coi là mang nhiều tài lộc cho gia chủ.

 4. Tứ cận lộ

Lộ là đường đi, cận lộ là gần đường đi, là kết nối giao thông dễ dàng và thuận tiện. Ngày nay Lộ ở đây còn mang ý nghĩa mở rộng như gần bến cảng, sân bay..

5. Ngũ cận điền

Điền là ruộng, là nơi làm việc canh tác nông nghiệp, là hình thức lao động sản xuất chính để tạo ra vật chất và thu nhập cho người dân nông nghiệp xưa. Hiểu rộng ra cho tới ngày nay thì “cận điền” không còn là gần ruộng nữa mà nó mang nghĩa gần nơi làm việc, thuận tiện cho việc làm việc.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

Đọc thêm về 15 thần sát hay dùng

 

 


Thần sát có nhiều loại nhưng tính chuẩn xác của nhiều thần sát không cao. Trong hơn 500 loại thần sát, có 15 loại có tính chính xác cao. 15 loại này đều được tính toán từ Thiên can & Địa chi . Chúng được lưu truyền từ thời Chiến quốc đến nay với 2000 năm lịch sử. Để giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về thần sát,  tôi xin tóm lược ý nghĩa và ảnh hưởng của chúng như sau:

1.Văn xương: là quý tinh chỉ sự thông minh, nho nhã, học tập ưu tú.

2. Tướng tính: Tướng tinh ngoài đại diện cho cấp dưới của bạn, còn đại diện bạn có thể trở thành trợ thủ đắc lực của người khác hay không? Nếu bạn là lãnh đạo, đại vận hành đến vận tướng tinh, có thể có được cấp dưới tốt. Nếu là nhân viên, hành đến vận Tướng tinh có thể hy vọng được tăng chức tăng lương, được lãnh đạo thừa nhận khả năng

 3. Hoa cái: Hoa cái đại diện cho tính tình thanh cao, tư chất thông minh, tự làm tự hưởng, giàu tài hoa và tài năng nghệ thuật, thích triết học, tôn giáo.Hoa cái chỉ khi Hoàng đế xuất tuần, thái giám mang một chiếc lọng quý (giống như ô) để che chổ vua ngồi. Hoa cái có uy lực lớn, đối với nam giới, Hoa cái đại diện cho tài hoa và thành tựu. Nữ giới có Hoa cái cũng giống như Võ Tắc Thiên, tuy có tài năng nhưng nhiều chồng. Khi mệnh nữ hành vận Hoa cái thì thường có tính cách của nam giới, mất đi nét dịu dàng nữ tính, dễ hình khắc chồng.

4. Lộc tồn: chính là lộc của tuế, chủ đem đến nhiều sự tốt lành, thuận lợi, may mắn, nhất là về tiền của, công danh, sự nghiệp.

5. Kim dư: kim là kim, dư là vàng tượng xe vàng là cát tinh

6. Thiên y: là thần chữa bệnh tật, nghề thuốc

7. Mã tinh: Mã là tượng trưng cho thay đổi biến động, Trong Bát tự gặp nó, đại diện người này có tính hướng ngoại, thích ngao du khắp nơi. Trong bát tự của thương nhân, quân nhân, nhà ngoại giao thường mang nhiều Mã tinh. Mã tinh còn là tiên chí cho xuất ngoại. Nếu Mã tinh bị hợp thì tuy có cũng bằng không, Mã tinh bị xung thì ngày đi ngìn dặm. Phụ nữ có nhiều Mã tinh chủ về thân tâm bất an, là tượng bất lợi.

8. Đào hoa: Đào hoa có nhiều tác dụng, không phải đều biểu thị sắc tình, càng không phải chuyên chỉ ngoại tình. Kết hợp bát tự khác nhau, Đào hoa sẽ mang hàm nghĩa phong phú. Ví dụ dung mạo đẹp, thông minh, nhân duyên tốt.

9. Thiên ất: là thần quý nhất, chổ mà ngài đến tất cả hung sát đều ẩn tránh. Thiên ất quý nhân là thần cát lợi nhất trong mệnh, nếu gặp được thì vinh hiển, công danh sớm đạt được, đường quan lộ hanh thông. Nếu đều có vượng khí thì lên chức vị cao. Đại, tiểu vận hành đến đây đều là điềm báo cát lợi. Chổ quý nhân đến ưa sinh vượng, không xung phá, không lạc Không vong là tốt

10.Kình dương là thần chỉ sự nguy hiểm, tai nạn

11.Thiên đức: là cát tinh phúc tường, gặp hung hóa cát.

12. Nguyệt đức: là thần cát tinh phúc thọ, bình an.

13. Kiếp sát: Kiếp sát là một đại hung thần, đại diện sự cố bất ngờ, tử vong, nhập viện, bệnh vô phương cứu chữa. Kiếp sát còn có tên là Đại hao. Kiếp sát bắt nguồn từ Tam sát. Tam sát bao gồm Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát.

14-15.Thiên la, địa võng: là thần ác sát, dính dáng đến pháp luật.

Ngoài ra còn phải xét đến Tuần không

Tuần Không có nghĩa là "không nằm trong tuần này"  (phải đợi đến tuần kế), hiểu theo nội hàm của độn pháp.

Tuần không: trạng thái Không Vong là vị trí ranh giới giữa hai chu kỳ, hai vị trí không gian, thời gian, giai đoạn phát triển. Ở thời điểm Không Vong tránh tiến hành những công việc mang tính chất đại sự, đặc biệt những công việc liên quan đến tiền bạc, danh lợi như: Ký kết hợp đồng kinh tế, nhập học, nhận chức, khai trương mở cửa hàng, cầu tài, xây dựng nhà cửa, kết hôn, xuất hành, nhập trạch, v.v…

Cụ thể như sau:

Tuần Giáp Tý gặp hai ngày Tuất, Hợi là Không Vong.
Tuần Giáp Dần gặp hai ngày Tý, Sửu là Không Vong.
Tuần Giáp Thìn gặp hai ngày Dần, Mão là Không Vong.
Tuần Giáp Ngọ gặp hai ngày Thìn, Tị là Không Vong.
Tuần Giáp Thân gặp hai ngày Ngọ, Mùi là Không Vong.
Tuần Giáp Tuất gặp hai ngày Thân, Dậu là Không Vong.

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

Đọc thêm về bình phong trước lăng mộ hay nhà thờ họ

 

Bình phong trước mộ hay còn gọi là cuốn thư là phần công trình dùng để trấn yểm cho các công trình thờ tự như lăng mộ, nhà thờ hay từ đường. Cuốn thư và bình phong giúp ngăn cản các nguồn tà khí đi thẳng từ cổng vào trong nhà. Là vật dụng mang ý nghĩa phong thủy có ý nghĩa bảo vệ công trình bởi các tác động tâm linh xấu từ bên ngoài. Ngoài ra bình phong trước mộ còn mang tính nghệ thuật. Thường một bức bình phong trước lăng mộ làm bằng đá được các nghệ nhân điêu khắc nhiều tích cổ. Ví dụ như tích ngũ phúc, tích cảnh sen, tích long mã, hay rồng cuốn thủy, cá chép hóa rồng đều mang đậm chất văn hóa dân gian.

>Cấu tạo bình phong trước mộ

Bình phong trước mộ gồm có 2 phần chính là phần thân và phần đế cuốn thư đá.

– Phần thân cuốn thư: đối với những loại nhỏ thường được làm từ 1 viên đá liền khối, sau đó chạm khắc hoa văn lên đá.

Hoa văn điêu khắc trên đá rất đa dạng phong phú, kết hợp cũng chữ Phúc, chữ Thọ, chạm cảnh bốn mùa xuân hạ thu đông hoặc đôi rồng chầu..

Thân cuốn thư loại lớn được cấu tạo gồm 1 khối đá ở giữa, rồi sau đó sẽ ghép dần từ giữa ra sao cho cân đối, đẹp mắt và chính xác.

– Hai bên của cuốn thư bao giờ cũng là hình ảnh bút nghiên và cây kiếm tượng trưng cho sự thông minh và dũng cảm.

– Phần đế cuốn thư :thường được làm kiểu chân quỳ, hoa lá hoặc trạm chiện.

>Cách đặt bình phong chuẩn theo phong thủy

Hiện nay ở các khu lăng mộ gia đình dòng họ thường làm cuốn thư. Vị trí Bức bình phong thường đặt phía trong, sau cổng và chắn ngang cổng vào khu mộ. Ý nghĩa che chắn cho khu lăng mộ, mọi người vào viếng sau khi qua cổng phải rẽ qua bức bình phong đá mới vào được bên trong. Bức bình phong trong khu mộ gia tộc, gia đình thường nhỏ hơn các kích thước cuốn thư trong nhà thờ, đình chùa.

Ngoài ra cũng có gia đình dòng tộc xây lăng mộ mà không có lăng thờ đá chung ở phía sau. Có thể do sở thích hoặc diện tích đất quá nhỏ hẹp không cho phép xây lớn. Nếu muốn dùng cuốn thư đá thì người ta có thể đặt nó ở phía sau cùng, ngay vị trí đặt lăng thờ chung.

Kích thước cuốn thư đá tùy thuộc vào kích thước khu lăng mộ để đặt cho phù hợp. Nếu phần cổng lăng mộ đá nhỏ thì kích thước cuốn thư cũng nhỏ. Thông thường cổng rộng 107 cm, cuốn thư rộng 133 cm, 147 hay 167 cm là đẹp. Kích thước của cuốn thư thường lớn hơn kích thước cổng, nằm cách cổng lăng mộ khoảng 50 cm.

Loại cuốn thư đá đặt ở khu lăng mộ thường không có hai cột đá hai bên, vì cuốn thư thường nằm sát cổng ra vào (nơi mà đã có hai cột cổng bằng đá).

>>Thực chất, từ “bình phong” được xuất phát từ Trung Quốc và được cấu tạo bởi hai từ: bình (trong tiếng Trung được viết là , mang nghĩa che chắn) và phong (được viết bằng tiếng Trung là , mang nghĩa là gió). Như vậy, từ nghĩa gốc là che chắn gió. Bức bình phong có tác dụng để che kín lăng mộ (hoặc ngôi nhà) cho ấm cúng và ngăn chặn gió độc, hay để ngăn chặn những thứ khí chẳng lành phát ra từ những vật lạ phía trước nhà (cây cối, cột mốc, đường đi...). Ngoài ra bức bình phong còn có tác dụng chấn phong, tránh cho những linh hồn hay những ma quỷ có lòng dạ xấu xa xâm nhập vào khu lăng mộ gia đình hay những công trình tâm linh.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Đọc thêm về Âm Đức và Dương Đức

 TU TÂM TÍCH ĐỨC…!!! 


- Người xưa nói Tích Đức, Tích Âm Đức. Từ nhỏ chúng ta vẫn thường nghe ông bà căn dặn: "Phải tích Âm Đức, không cho mình thì cũng là cho con cháu". Nhưng thế nào gọi là Âm Đức và Dương Đức? 

>Làm việc tốt muốn người khác biết gọi là "Dương Đức". Dương Đức phúc báo nhanh, người ta sẽ ca ngợi bạn, tuyên dương bạn, báo đáp bạn bằng vật chất hoặc khen thưởng biểu dương. Dương Đức đã được báo đáp rồi thì sẽ hết. 

 >Làm việc tốt mà không cần người khác biết gọi là “Âm Đức”. Âm Đức dù không được ai biết đến, không được ai biểu dương, nhưng phúc báo lớn, tích được lâu dài. Đừng sợ làm việc tốt thì sẽ phải chịu thiệt. Hành thiện sẽ tích Phước, sống Lương Thiện sẽ tích Đức, Phước Đức ấy vĩnh viễn là của bạn, người khác không thể trộm được, không thể cướp được.

> Tự mình tu Phước Đức thì tự mình được Phúc Báo, vì Phước Đức là một loại năng lượng. Tuy Phước Đức nhìn không thấy, sờ không được, nhưng không lúc nào và không nơi nào là không tồn tại.  "Dương Đức" không lâu dài, đa số là tùy theo việc làm tốt mà nhận được Phúc Báo ngay trong đời. 1 phần là do Tâm mong cầu được hồi đáp, 1 phần là do có mục đích mới Hành Thiện. Là vì Danh vì Lợi mới làm... Nên sự Hồi Đáp cũng có Giới Hạn.  "Âm Đức" tích được lâu, hơn nữa càng tích càng lớn, càng tích càng dày, còn có thể để lại phúc trạch cho cháu con. Do đó làm việc Thiện thì nên xuất phát tự đáy lòng, là thật tâm thật lòng vì người khác, vì lòng thương yêu mà làm... Không nên truy cầu Danh Lợi hoặc vì Danh Tiếng...  Người xưa rất coi trọng Âm Đức, cho rằng Âm Đức mới là trân quý, còn Dương Đức chỉ là một chút Hư Danh, không có giá trị thực tế đối với sinh mệnh. "Sống trong đời sống cần có một Tấm Lòng", và Tấm Lòng chỉ "để gió cuốn đi" ... Đó chính là Âm Đức☘

Việc tích âm công là việc rất nhiều người nguyện ý làm. Hành thiện tích đức, lợi người lợi mình, đó là việc tốt. Nhưng người hiện đại đã thoát ly khỏi tín ngưỡng truyền thống đã quá lâu rồi, nên những tông chỉ của người xưa trở nên khó lý giải. Ví dụ người xưa coi trọng thờ kính Tam Bảo ‘Phật Pháp tăng’, thì được phúc báo. Tại sao Tăng lại được coi là một trong Tam Bảo? Bởi vì tăng nhân tu hành Phật Pháp mới trở thành Bảo. Nhưng ngày nay, nhiều tăng nhân đâu còn tu hành Phật Pháp, họ chỉ đọc ‘Kinh Phật’ rồi đi làm lễ ‘ma chay, giỗ chạp’ rồi ‘cầu an’, ‘tiêu tai giải hạn’ cho các tín đồ để kiếm tiền. Những chuyện như quan hệ nam nữ bất chính, thậm chí phạm tội lớn hơn như hút hít buôn bán ma túy còn có, những người được gọi là tăng nhân, là hòa thượng, là sư này từ lâu đã không còn coi lời dạy của Phật Thích Ca để lại trước khi Niết Bàn “Lấy giới luật làm Thầy” là gì nữa, căn bản đã quên hết hoàn toàn.

Những hành vi của họ trái ngược hoàn toàn với Bảo. Nếu cúng dường, hiến tặng tiền bạc tài sản, thờ kính những người như thế này thì không những không đắc được âm công, trái lại còn tạo nghiệp, mất phúc phận. Do tín ngưỡng méo mó, có người còn coi đó là một nghề, còn tìm cách ‘chạy’ để làm sư chùa này, chùa kia, miệng niệm Phật mà làm mê hoặc thế nhân, quả thực là lừa đảo kiếm tiền.

Còn có những thanh niên mạnh khỏe không lo làm ăn, đóng giả làm người tàn tật, bò lết trên đường phố để khơi dậy lòng thương xót của mọi người. Đã nhiều vụ phát hiện ra những kẻ ăn xin chuyên nghiệp này xây nhà lớn ở quê, ăn xin cũng đã thành một nghề chuyên nghiệp ‘phát tài’. Bố thí những kẻ như thế không những không tích được âm đức mà còn tạo nghiệp.

Cũng nhiều người có thiện tâm, họ tích âm công bằng biện pháp phóng sinh, mua rất nhiều động vật như chim rùa, cá tôm rồi thả ra môi trường. Việc này có thể nuôi dưỡng thiện tâm, nhưng quá ‘hữu cầu’ vào ‘phóng sinh’ thì lại gây tác dụng ngược. Do nhu cầu phóng sinh quá lớn, nhất là dịp đầu năm, rằm tháng Bảy, số lượng người phóng sinh quá lớn.

Có những tăng nhân còn đứng ra tổ chức ‘lễ phóng sinh’. Các phật tử, tín đồ quyên tiền để họ ‘mua giúp đồ phóng sinh’, nhiều chim thú, có khi lên đến hàng chục tấn cá thả ra môi trường. Việc này đã khiến nguồn cung thiếu, nên nhiều người đua nhau đi bắt chim thú, hoặc nuôi giống chim thú cá tôm để bán cho người phóng sinh. Vô hình trung đã kích thích người ta lạm sát bắt chim thú hoang. Còn cá tôm sống trong các môi trường khác nhau, mua về thả mà không rõ môi trường sống có thích hợp không, có thể sẽ chết do không hợp môi trường, hoặc bị vật khác hoặc người ta bắt ngay sau khi phóng sinh. Như thế chẳng những không phóng sinh được mà lại đem nghiệp sát sinh. Chưa tính số tiền quyên góp cho việc này chi tiêu thế nào, người đứng ra tổ chức có khai khống không, thì đó cũng là việc tạo nghiệp cho người phóng sinh.

Trong xã hội mà nhiều giá trị tín ngưỡng bị sai lệch, nhân sinh quan méo mó như hiện nay thì tích âm đức quả là việc không hề dễ dàng.

>>> Để khôi phục các con đường thay đổi vận mệnh thì việc đầu tiên là khiến cho đạo đức thăng hoa trở lại, quay lại các giá trị truyền thống xưa.

Khổng Tử nói: “Quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh Trời, sợ đại nhân, sợ lời của Thánh nhân”. Ý nghĩa là, con người phải biết kính sợ Thượng Thiên, thuận theo Thiên mệnh, biết kính sợ người có phẩm hạnh cao, địa vị cao, biết kính sợ lời dạy của Thánh nhân.

Khi con người trong tâm có lòng kính sợ thì mới ước chế hành vi của mình, mới kiềm chế ham muốn, tham dục của mình, thì mới có đời sống đạo đức tốt đẹp và duy trì mối quan hệ hài hòa với mọi người, với thiên nhiên. Chỉ có như vậy thì đạo đức xã hội mới nâng cao trở lại, các cơ chế quyền lực, quản lý xã hội mới vận hành lành mạnh, thiên nhiên mới được khôi phục trở lại, con người mới có cuộc sống yên ổn, hạnh phúc đúng nghĩa ‘Thiên thời, địa lợi và nhân hòa’.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Đọc thêm về ý nghĩa 24 sơn hướng trong phong thủy

 


Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.


Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

- Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
- Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
- Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
- Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
- Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
- Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
- Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN
- Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

Phương PHÚC ĐỨC đại cát 

Nguyên văn: 

PHÚC ĐỨC an môn đại cát linh
Niên niên tiến bảo đắc điền trang
Chủ tiến khoa giáp lợi danh dương
Hựu sinh quý tử bất tầm thường

Dịch nghĩa:

Cổng phương phúc đức đại cát linh,
Liền năm được của, được điền trang 
Rộng đường khoa cử có danh lợi.
Lại sinh quý tử chẳng tầm thường.
(Trổ cổng tại phương PHÚC ĐỨC là đại cát lợi, chủ về gia súc đầy đàn, tằm dâu vượng phát, người nhà học hành đỗ đạt, rộng đường công danh, (Có sách nói : trong vòng 3 năm sẽ có thêm người, sinh quý tử, thăng quan tiến chức, phát tài).

Phương ÔN HOÀNG không tốt

Nguyên văn:

ÔN HOÀNG chi vị mạc khai môn,
Tam niên ngũ tải nhiễm thời ôn,
Cánh hữu ngoại nhân lai tự ải,
Nữ nhân sinh sản mệnh nan tồn.

Dịch nghĩa:

Phương vị ÔN HOÀNG đừng mở cổng.
Liền năm bệnh dịch chẳng được yên,
Lại có người ngoài đến treo cổ,
Đàn bà sinh nở mệnh nguy nan.

(Nếu trổ cổng tại hướng ÔN HOÀNG, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, người lớn, kẻ bé trong nhà gặp tai nạn, phụ nữ khó sinh đẻ, vướng mắc hình khắc thị phi, có người ngoài gây kiện tụng rắc rối, gia chủ thường sinh con một bề mới yên).

Phương TẤN TÀI (còn gọi là TIẾN TÀI) mọi việc thuận lợi 

Nguyên văn: 

TẤN TÀI chi vị thị tài tinh,
Tại thử an môn bách sự nghi,
Lục súc điền tàm, nhân khẩu vượng,
Gia quan tiến tước hữu thanh danh.

Dịch nghĩa:

TẤN TÀI là chủ về tiền của,
Cổng đặt phương này muôn việc lành,
Gia súc tằm dâu, nhân khẩu vượng,
Thăng quan tiến chức có thanh danh.

(Trổ cổng tại phương TẤN TÀI chủ về rước tài lộc, thêm nhân đinh, thu hút được ruộng vườn,  thăng quan tiến lộc, gia súc đầy đàn, ruộng vườn rỗng rãi, là điềm người khác mang của đến cho.)

Phương TRƯỜNG BỆNH hung hại

Nguyên văn:

TRƯỜNG BỆNH chi vị tật bệnh trọng.
Thử vị an môn lập kiến hung
Gia trưởng hộ đinh mục tật hoạn
Thiếu niên bạo tốt ngục lao trung.

Dịch nghĩa:

TRƯỜNG BỆNH là phương nhiều tật bệnh,
Làm cổng phương này liền gặp hung
Gia chủ, nhân đinh thường đau mắt,
Thanh niên giam hãm chốn lao lung.

(Đặt cổng phương TRƯỜNG BỆNH, chủ nhà bất nhân, mắt mờ, tim đau, con cháu trẻ tuổi chết đột tử, thường vướng mắc chuyện thị phi kiện tụng đến phá sản, trộm cướp cấu kết trong nhà ngoài ngõ cướp bóc… Gia đình không được yên ổn).

Phương TỐ TỤNG gặp tai ương

Nguyên văn:

TỐ TỤNG chi phương đại bất tường.
An môn chiêu họa nhạ tai ương,
Điền viên tài vật âm nhân tổn,
Thời tao khẩu thiệt não nhân trường.

Dịch nghĩa:

TỐ TỤNG ấy là phương cực hung,
Đặt cổng rước họa gặp tai ương,
Mất đất, tán tài, hại người nữ,
Kiện tụng, thị phi thực đáng buồn.

(Trổ cổng phương TỐ TỤNG sẽ xảy ra tranh chấp tài sản, tai ương, họa hại. Gia súc và tài sản đều bất hợi, bị tiểu nhân ám hại, cuộc sống không được yên ổn.) 

Phương QUAN TƯỚC phát tài

Nguyên văn:

An môn QUAN TƯỚC tối cao cường,
Sĩ nhân cao trạch nhập đế hương,
Thứ sĩ đương niên tài đại vượng
Thiên ban cát khánh tổn vinh xương.

Dịch nghĩa:

Trổ cổng nên tìm phương QUAN TƯỚC,
Làm quan thăng chức chốn cung đình,
Người thười vượng phát về tiền của,
Phúc lành nghìn mối được quang vinh.

(Trổ cổng phương QUAN TƯỚC, chủ về thăng quan tiến chức, thêm nhân đinh, phát đạt lương thiện. Người thường thì ruộng vườn, gia súc sinh sôi, của cải nhân đinh vượng phát.)

Phương QUAN QUÝ hoạn nộ hanh thông

Nguyên văn:

QUAN QUÝ vị thượng hảo an môn,
Định chủ danh oanh vị tước tôn,
Điền địa ti tài nhân khẩu vượng,
Kim ngân tài vật bất tu luân.

Dịch nghĩa:

Tại phương QUAN QUÝ nên đặt cổng.
Danh vọng hơn người, chức tước cao,
Ruộng đất tiền của, nhân đinh vượng,
Bạc vàng châu báu thật dồi dào.

(Trổ cổng phương QUAN QUÝ sẽ sinh quý tử, đường công danh rộng mở, thu hút ruộng vườn nhà cửa, khế ước, gia súc, được của bất ngờ, phát tài, giàu phúc đức.)

Phương TỰ ĐIẾU (còn gọi là TỰ ẢI) gặp tai ương

Nguyên văn:

TỰ ĐIẾU vi thượng bất tương đương.
Ân môn lập kiến hữu tai ương,
Đao binh ôn hỏa tao hoành sự,
Ly hương tự ải nữ nhân thương.

Dịch nghĩa:

Tại phương TỰ ĐIẾU đừng trổ cổng,
Trổ cổng lập tức gặp tai ương,
Binh đao dịch bệnh, nhiều tai họa,
Rời quê thắt cổ, nữ tổn thương.

(Trổ cổng tại phương TỰ ĐIẾU sẽ gặp treo cổ tự tử, chết đuối, Tổn hại nhân đinh, kiện tụng phá sản. Nam phải xa quê, nữ khó sinh đẻ. Gia súc, tài sản … đều bất lợi).

Phương VƯỢNG TRANG nhiều tiền của

Nguyên văn:

Vượng trang an môn tối cát lợi,
Tiến tài tiến bảo cập điền trang, 
Bắc phương âm nhân tiến thư khế,
Đại hoạch tàm thư lợi thắng thường.

Dịch nghĩa:

Trổ cổng VƯỢNG TRANG rất cát lợi,
Vượng phát tiền của với ruộng vườn,
Đàn bà phương Bắc dâng văn khế,
Tằm dâu phồn thịnh lợi khác thường.

(Trổ cửa phương VƯỢNG TRANG sẽ mở rộng được ruộng vườn bờ cõi từ xung quanh, thu nạp ruộng đất, văn khế, gia súc, của cải … tại phương Bắc, thêm nhân đinh – thêm người).

Phương HƯNG PHƯỚC được trường thọ

Nguyên văn:

HƯNG PHƯỚC an môn thọ mệnh trường.
Nên niên tứ quý thiểu tai ương.
Sĩ nhân tiến chức gia quan tước,
Thứ nhân phát phúc tiến điền trang.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi HƯNG PHƯỚC được trường thọ,
Quanh năm liền tháng ít tai ương.
Kẻ sĩ thăng quan thêm chức lớn,
Người thường phát phúc thêm ruộng vườn.

(Trổ cổng phương HƯNG PHƯỚC sẽ được phúc thọ, người nhà bình yên, người nam, người nữ đều trong sạch. Kẻ sĩ đường công danh rộng mở. Người thường cũng có phúc , gia súc sinh sôi, con cái ngoan hiền hiếu thảo).

 

Phương PHÁP TRƯỜNG chịu tội hình

Nguyên văn:

PHÁP TRƯỜNG vị thượng đại hung ương,
Nhược an thử vị thụ hình thương,
Quan tai lao ngục bị gia tỏa,
Lưu đồ phát phối xuất tha hương.

Dịch nghĩa:

Phương vị PHÁP TRƯỜNG gây họa xấu,
Đặt cổng phương này chịu hình thương.
Kiện tụng, cầm tù, cảnh xiềng xích.
Đi đày biệt xứ tại tha hương.

(Trổ cổng hướng PHÁP TRƯỜNG chủ về kiện tụng, phạm pháp, hãm về công danh cho gia chủ).

Phương ĐIÊN CUỒNG chủ li biệt

Nguyên văn:

ĐIÊN CUỒNG chi vị bất khả khoa.
Sinh li tử biệt cập điên tà,
Điền địa thoái tiêu, nhân khẩu bại.
Thủy hỏa ôn hoàng tuyệt diệt gia.

Dịch nghĩa:

Phương vị ĐIÊN CUỒNG không nên phạm.
Sinh li tử biệt với điên khùng…
Ruộng đất tiêu ma, người lụn bại,
Nước, lửa, dịch bệnh, nhà diệt vong.

(Trổ cổng phương ĐIÊN CUỒNG chủ về các chứng điên tà, dâm loạn, phụ nữ khó đẻ, đàn ông rượu chè háo sắc, thanh niên chết đột tử, cha con chia lìa, không được sống yên ổn, của cải hao tán).

Phương KHẨU THIỆT gặp tai ương

Nguyên văn:

KHẨU THIỆT an môn đại bất tường,
Thường chiêu vô cô bị tai ương,
Phu phụ tương tiên nhật trục hữu.
Vô đoan huynh đệ đấu tranh cường.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi KHẨU THIỆT không cát tường,
Thường hay oan uổng chịu tai ương,
Chồng vợ suốt ngày sinh xô xát.
Anh em vô cớ lại tranh giành.

(Trổ cổng phương KHẨU THIỆT thường xuyên vướng mắc điều tiếng thị phi, kiện tụng. Con cái ngỗ nghịch bất hiếu, mọi sự đều bất lợi cho gia chủ)

Phương VƯỢNG TÀM gia đạo hưng thịnh

Nguyên văn:

VƯỢNG TÀM vị thượng hảo tu phương.
Thử vị an lai gia đạo xương,
Lục súc ti tàm gia đại vượng,
Tọa thâu mễ cốc mãn thương tương.

Dịch nghĩa:

VƯỢNG TÀM là hướng tu phương tốt,
Đặt cổng phương này nhà ấm no,
Gia súc tằm tơ đều vượng phát,
Ngồi thu thóc lúa chất đầy kho.

(Trổ cổng phương VƯỢNG TÀM là rất có lợi cho điền sản, của cải dồi dào, thêm người thêm của, cần kiệm, hiếu thiện).

Phương TIẾN ĐIỀN con cháu hiền tài

Nguyên văn:

TIẾN ĐIỀN vị thượng phúc miên miên,
Thường chiêu tài bảo tử tôn hiền,
Cánh chủ ngoại nhân lai kỷ vật,
Kim ngân tài bảo phú điền viên.

Dịch nghĩa:

Được phương TIẾN ĐIỀN là có phúc,
Tiền tài sung túc, con cháu ngoan,
Lại được người ngoài đến gửi của,
Bạc vàng tích lũy, nhiều ruộng vườn.

(Trổ cổng hướng TIẾN ĐIỀN chủ thu hút về điền sản, văn khế của người khác. Ăn ở hiền đức, hay làm điều thiện, được người gửi gấm của cải, gia súc sinh sôi).

Phương KHỐC KHẤP gia tài lụn bại

Nguyên văn:

KHỐC KHẤP chi môn bất khả khai,
Niên niên tai họa đáo gia lai,
Uổng tử thiếu vong nam cộng nữ.
Bi khấp lưu lệ nhật doanh tai

Dịch nghĩa:

Cổng phương KHỐC KHẤP không nên mở.
Liền năm tai họa ập đến nhà,
Nam nữ chết oan hoặc yểu mệnh.
Buồn thương khóc lóc lệ chan hòa.

(Trổ cổng phương KHỐC KHẤP trong nhà thường xuyên có chuyện buồn, bất lợi cho cả gia súc).

Phương CÔ QUẢ gia súc tổn hại, người ly tán

Nguyên văn:

CÔ QUẢ chi phương tai đại hung,
Tu chi quả phụ tọa đường trung
Lục súc điền tàm câu tổn bại,
Cánh kiêm nhân tán tẩu tây đông.

Dịch nghĩa:

CÔ QUẢ phương này rất tai hại,
Trổ cổng đau thương, vợ mất chồng.
Gia súc, ruộng tằm đều thất bại,
Người nhà ly tán bỏ quê hương.

(Trổ cổng phương CÔ QUẢ không có lợi về nhân đinh và gia súc).

Phương VINH PHÚC (Còn gọi là VINH PHÚ) sung túc ấm no

Nguyên văn:

VINH PHÚC vị thượng tối kham tu.
An môn đoán đích vượng nhân trù,
Phát tích gia đình vô tai họa,
Phú quý vinh hoa sự nghiệp thu.

Dịch nghĩa:

VINH PHÚC phương này nên xây dựng.
Đặt cổng người nhà ắt vinh quang,
Gia đình vượng phát không tai họa,
Phú quý vinh hoa sự nghiệp thành.

(Trổ cổng phương VINH PHÚC sẽ được vinh hoa phú quý, ruộng vườn tằm tơ bội thu, tiền bạc dồi dào, gia súc sinh sôi, gia đạo an lành, làm ăn phát đạt).

Phương THIẾU VONG gặp tai ương

Nguyên văn:

THIẾU VONG chi vị bất khả khoa.
Nhất niên chi nội khốc thanh hoa.
Hiếu tửu âm nhân tự ải tử.
Lôi thiên thương tử tử thiên nha.

Dịch nghĩa:

Phương vị THIẾU VONG đừng nên phạm,
Trong năm sẽ gặp chuyện tang thương,
Nghiện rượu, phụ nữ tự thắt cổ,
Dễ gặp sét đánh, chết tha hượng.

(Trổ cổng THIẾU VONG sẽ tổn thương đến người nhỏ tuổi và phụ nữ).

Phương XƯƠNG DÂM chủ dâm loạn

Nguyên văn:

XƯƠNG DÂM chi vị bất khả tu,
Tu chi đâm loạn sự vô hưu,
Thất nữ hoài thai tùy nhân tẩu,
Nhất gia đại tiểu bất tri tu.

Dịch nghĩa:

XƯƠNG DÂM phương ấy đừng xây cổng,
Xây rồi dâm loạn hại gia phong,
Con gái chửa hoang bỏ nhà trốn,
Một nhà vô sỉ chẳng ngại ngùng.

(Trổ cổng phương XƯƠNG DÂM nam nữ trong nhà ham mê tửu sắc, dâm dật vô liêm sỉ, bại hoại gia phong. Phụ nữ dâm loạn, con gái chửa hoang, gia súc hao tổn).

Phương THÂN HÔN (còn gọi là THÂN NHÂN) vượng gia nghiệp

Nguyên văn:

THÂN HÔN vị thưởng hảo tu phương,
Tu chi thân thích tận hiền lương,
Thường thời vãng lai đa cát khánh.
Kim ngân tài bảo mãn thương tương.

Dịch nghĩa:

Phương vị THÂN HÔN nên trổ công,
Họ hàng thân thích thảy hiền hòa,
Qua lại thường xuyên nhiều phúc lộc.
Châu báu, bạc vàng chất đầy kho.

(Trổ cổng phương THÂN HÔN sẽ thu hút tiền của, thêm nhân đinh. Gia súc sinh sôi. Làm ăn phát đạt).

Phương HOAN LẠC nhiều tin vui

Nguyên văn:

HOAN LẠC môn tu cánh tiến tài,
Thường hữu trưng âm nhân tống lai,
Điền tàm lục súc gia hưng vượng,
Phát phúc thanh danh hưởng tự lôi.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi HOAN LẠC là thêm lộc,
Thường được đàn bà hiến của tiền,
Ruộng, tằm, gia súc đều sinh vượng,
Phúc đức thanh danh tựa sấm rền.

(Trổ cổng phương HOAN LẠC sẽ thu hút được tiền tài, của cải của hộ phá sản phương nam, gia súc sinh sôi, có phụ nữ tặng tiền bạc).

Phương TUYỆT MỆNH (còn gọi là BẠI TUYỆT hay TUYỆT MẠNG) hại nhân đinh

Nguyên văn:

TUYỆT MỆNH chi phương bất khả tu,
Tu chi linh lạc bất kham sầu,
Nhân đinh tổn hại vô tông tích,
Phụ tử đông tây các tự đầu.

Dịch nghĩa:

Tại phương TUYỆT MỆNH đừng xây cổng
 Xây rồi lưu lạc thật đau thương,
Nhân đinh hao hụt không tăm tích,
Cha con li tán ở đôi phương.

(Trổ cổng phương TUYỆT MỆNH chủ về phá sản, tán tài, bất lợi)

Phương VƯỢNG TÀI vượng nhân đinh

Nguyên văn:

VƯỢNG TÀI môn thượng yếu quân tri,
Phú quý thăng thiên nhiệm phát huy,
Hiền đằng nhân đinh gia nghiệp thắng,
Nhất thân phong hậu thọ tề mi.

Dịch nghĩa:

Đặt cổng VƯỢNG TÀI anh nên biết,
Phú quý thang quan thỏa vẫy vùng,
Nhân đinh vượng phát sự nghiệp thịnh,
Một đời sung túc thọ vô cùng.

(Trổ cổng phương VƯỢNG TÀI làm ra nhiều tiền của, tăng tuổi).