Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2021

Đọc thêm 6 biện pháp khai vận tốt theo phong thủy

 


1.Thanh lý vật cũ, trưng bày cây xanh
 
Trước thời khắc mới như đầu tháng, đầu năm, một lời khuyên cho mọi người là hãy dọn dẹp nhà cửa thật sạch sẽ, những đồ đạc cũ, hỏng hoặc không có nhu cầu sử dụng thì có thể thanh lý hoặc bỏ đi. Sắp xếp lại những vật dụng kỷ niệm và cất đi gọn gàng. Như vậy không những mang tới không gian thoáng đáng, mới mẻ cho ngày lễ thêm tưng bừng và còn cải thiện phong thủy.
 
Bên cạnh đó gia chủ có thể bày thêm cây xanh, thực vật xanh trong nhà giúp tăng cường sinh khí, nâng cấp gia vận. Những vị trí tốt nhất để bày là phòng khách, cửa chính, cửa sổ để nghênh đón cát khí, nhà vệ sinh để giảm bớt xú khí, giải trừ hung hiểm.

2. Không nên ở một mình, rời xa sông hồ
 
Trong những ngày cuối tháng, cuối năm nếu vận khí của bạn lúc này kém, nếu lui tới những nơi ao hồ sông suối, rừng sâu sẽ dễ bị nhiễm bệnh hoặc bị ảnh hưởng bởi các nguồn năng lượng không tốt. Để khai vận tốt nhất thì lời khuyên dành cho những người này là hãy đến nơi đông vui, náo nhiệt, hay ở bên cạnh bạn bè người thân để quên đi chuyện buồn, xung hỉ đuổi tai. 

3. Càng đông người càng vượng phúc

Cuối tháng, cuối năm chính là tết của tình thân, là dịp để tụ họp gia đình và tăng tình đoàn kết gắn bó thân thiết, nếu càng đông người càng thêm phúc lộc. Nếu trong nhà nhân khẩu ít ỏi, người thưa thớt thì nên mời bạn bè, họ hàng, làng xóm tới cùng chung vui để tạo không khí náo nhiệt. Càng tưng bừng phấn khởi thì gia vận càng thịnh vượng, hỉ khí vây quanh, mọi chuyện đều khởi sắc. Điều kiêng kỵ nhất là căn nhà vắng lặng không có tiếng cười nói, không tổ chức lễ hội gì, điều này sẽ khiến cho phong thủy đi xuống. 

4. Cầu phúc

Người phương Đông có rất nhiều ngày lễ truyền thống, mỗi ngày lễ đều không thể thiếu tập tục lễ bái thần linh cầu phúc. Còn đối với người Việt, họ còn có tục cúng lễ ông bà tổ tiên, thắp hương để mời người đã khuất về cúng đón lễ cùng con cháu, thể hiện tinh thần đoàn viên kết nối tâm linh.

5. Đốt đèn vượng tài
 
Theo phong thủy, một trong số những mẹo để khai vận trong dịp lễ, Tết chính là đốt đèn lồng để mong cầu thuận lợi tài chính. Vào buổi tối trên trời có trăng sáng dịu dàng, trong nhà có hơi ấm của lửa, vừa thân mật gần gũi lại có tác dụng về mặt phong thủy. Tương truyền rằng, Thần Tài thấy nơi nơi đông vui náo nhiệt nên ghé tới, đốt đèn nến ở tài vị để thuận tiện dẫn đường cho ngài, và gia đình sẽ chiêu tài vượng vận khí tốt hơn. 

 6. Làm việc thiện nguyện, tặng quà người thân

Bất kể lúc nào nếu muốn tăng vận thế hãy chọn làm việc thiện nguyện bởi nó sẽ giúp bạn tích thiện đức, nạp phúc, rước vận may tốt nhất. Vào dịp lễ, Tết, nếu có điều kiện bạn có thể tham gia vào một số hoạt động thiện nguyện với mọi người.

Nếu không đủ điều kiện, chỉ đơn giản giúp đỡ một người bạn nào đó đang gặp chuyện buồn hay có chút phiền phức cũng chính là một việc tốt. Làm thiện nguyện rất đơn giản, không nhất thiết phải là việc to tát, chỉ cần là giúp đỡ người khác là được. Ngoài ra, tặng quà người thân (không quan trọng là tình nhân, người thân hay bạn bè), bạn đều có thể dùng hình thức này để giúp bạn chiêu vận cát tường. Khi gói nên dùng giấy màu đỏ giúp tăng thêm hiệu quả chúc phúc cho đối phương, đồng thời rước thêm may mắn cho mình. Nếu không tặng quà cho người khác, bạn cũng có thể tự tặng cho bản thân một món quà.


Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Đọc thêm cách tính về 12 trực


 12 Trực hay gọi là Thập Nhị Trực là một trong những cách phân chia thời gian để luận Cát – Hung của người xưa.

Trực được coi là một trong những căn cứ đầu tiên xét tốt xấu – cát hung của tháng, ngày, giờ của thời điểm muốn lựa chọn để tiến hành làm một việc gì đó.

Trực còn là tên gọi khác của các sao trong chòm sao Diêu Quang, Phá Quân tinh (hay Dao Quang tinh). Trong thiên văn học hiện đại, người ta cũng gọi đây là chuôi của chòm sao Bắc Đẩu (hay Đại Hùng tinh).

Có tất cả 12 trực, mỗi ngày ứng với một trực theo trình tự lần lượt là: 

1. Trực Kiên; 2. Trực Trừ; 3: Trực Mãn; 4: Trực Bình; 5: Trực Định; 6: Trực Chấp; 7: Trực Phá; 8: Trực Nguy; 9: Trực Thành; 10: Trực Thâu; 11: Trực Khai; 12: Trực Bế.

Các trực như: Trực Trừ, Trực Định, Trực Nguy, Trực Khai là bốn trực đem lại cát lợi hay còn gọi là Tứ Hộ Thần. 

Hai trực là: Trực Chấp, Trực Kiên là bán cát bán hung tức là có cả tốt, cả xấu.

Sáu trực còn lại là: Trực Bế, Trực Mãn, Trực Bình, Trực Phá, Trực Thành, Trực Thu là thần hung mang nhiều điềm xấu.

* Ý NGHĨA CỦA THẬP NHỊ TRỰC (12 TRỰC) NHƯ SAU:

1/ Kiên: là kiên định kiên cố, dùng vào việc sửa chữa, ko dùng được cho khai Trương – vì cố định mà khai trương đứng luôn (Cấm không được dùng cho khai Trương)
2/ Trừ: là bớt đi, là bỏ cái cũ làm cái mới: tốt cho việc thay cũ đổi mới; vidu: thay bàn, thay giường – tốt cho việc bát nhang, rũ bỏ tang chế (trừ phục – xả tang)
3/ Mãn: Chứa Xung túc đầy đủ, mãn nguyện – dùng vào việc chất chứa kho bãi nhập kho (ko phải xuất kho) chỉ thu vào ko được xuất ra – Tiền ko được trả, giới hạn trả
4/ Bình: Trung Bình, mọi việc 50/50 nhưng ko phải là việc cưới hỏi khai trương, động thổ
5/ Định: Dùng cho về nhà mới (nhập trạch) ổn định hoặc san lấp mặt bằng (không phải động thổ)
6/ Chấp: Chứa – nhưng  khác với mãn là xuất, nhập, tồn chứ ko phải thu vào
7/ Phá: phá tường, đập tường, phá bỏ cái cũ – Không có nghía là mua (thay) cái mới – tức bỏ luôn : Thanh Lý Hợp Đồng, Ly Dị…
8/ Nguy: nguy nan nguy hiểm nguy kịch – rất xấu:
9/ Thành: là được của cải, tốt
10/ Thâu: Thu vào – có nghĩa là mua vào, mua đất, mua đai, mua xe
11/ Khai : khởi sự - bắt đầu: động thổ, khai trương, khởi nghiệp
12/ Bế: bế tắc, vô đường cùng: rất xấu

>Ý Nghĩa dân gian 12 Trực

Trực Kiến (trực đầu tiên trong 12 ngày Trực): Giai đoạn mở đầu cũng giống như hạt cây bắt đầu nảy mầm. Là thời kỳ kiến tạo nên vạn vật nên sinh lực mạnh mẽ, triển vọng tiền đồ lớn lao. Nếu chọn ngày có trực này vào các công việc như khai trương cửa hàng, động thổ, nhậm chức, cưới hỏi đều cát lợi vô cùng.

 - Trực Trừ (Trực thứ 2 trong 12 ngày Trực): Vòng Trường sinh đến giai đoạn gọi là Mộc dục, cả hai đều có ý nghĩa là trừ bỏ cái cũ, tẩy rửa uế tạp, như trẻ con tự biết tắm gội chăm sóc bản thân, hạt cây vươn dần lên có chút bỏ lớp vỏ bảo vệ ở lá mầm, hướng tới tương lai tươi mới. Ngày có trực này là một ngày bình thường, hay tốt vừa.

Trực Mãn (Trực thứ 3 trong 12 ngày Trực): Giai đoạn vạn vật đi đến đầy đủ, kiện toàn. Ví như thanh niên đủ tuổi trở thành công dân, có thể lao động nuôi sống bản thân và gia định, thực hiện các nghĩa vụ đối với xã hội và cộng đồng. Ngày có trực này là một ngày cát lợi, nhất là đối với việc kinh doanh buôn bán, bởi vì giai đoạn này hướng tới sự phong phú, sung túc và đầy đủ

 - Trực Bình (Trực thứ 4 trong 12 ngày Trực): Là một ngày tốt, giai đoạn này đi về trạng thái ổn định, phát triển bền vững

 - Trực Định (Trực thứ 5 trong 12 ngày Trực): Thời điểm tốt, vạn vật phát triển cực thịnh, yên định danh phận, ngôi thứ, theo vòng Trường sinh thì giai đoạn phát triển đến cực thịnh là Đế vượng, ở thời kỳ này con người có đầy đủ các yếu tố về thể chất, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và vốn liếng để làm những việc mình theo đuổi, không còn bị chi phối bởi các yếu tố khác, đây chính là giai đoạn huy hoàng trong cuộc đời. Bởi thế nên ngày có trực này cát lợi công việc thuận lợi và đạt được thành công mỹ mãn

 - Trực Chấp (Trực thứ 6 trong 12 ngày Trực): Sau khi có được thành tựu người ta thường tìm cách bảo vệ nó. Xét như con người đến giai đoạn gần về già, tâm lý thay đổi, muốn duy trì cục diện cũ, tâm lý bảo thủ, không còn nhiều khí lực và khát vọng như thời trai trẻ. Dấu hiệu này báo hiệu thời kỳ suy thoái bắt đầu, nên ngày có trực này không phải là ngày tốt

 - Trực Phá (Trực thứ 7 trong 12 ngày Trực): Giai đoạn này nhiều thứ biến động mạnh, nền tảng cũ rung chuyển và bị phá hủy. Giống như một cơ thể khi về già, mọi cơ quan yếu ớt, bệnh tật và vi khuẩn xâm nhiễm khiến cho sức khỏe ngày càng suy kiệt. Nên ngày có trực này rất xấu, người ta thường tránh không sử dụng

 - Trực Nguy (Trực thứ 8 trong 12 ngày Trực): Báo hiệu sự suy thoái đến cực điểm. Ngày có trực này xấu, ít người lựa chọn cho các công việc

 - Trực Thành (Trực thứ 9 trong 12 ngày Trực): Cục diện cũ mất đi, những công lao, thành tích và đóng góp được tổng kết, báo cáo, ngày có trực này là ngày tốt, mọi việc diễn ra thuận lợi và có kết quả như ý

 - Trực Thâu (Trực thứ 10 trong 12 ngày Trực): Giai đoạn gần cuối của chu kỳ phát triển ví dụ như lúa đã gặt hái xong mà đem cất trữ vào kho. Ngày có trực này là ngày xấu, hoặc ở mức trung bình, công việc để tiến hành thì lợi với một số việc lặt vặt

 - Trực Khai (Trực thứ 11 trong 12 ngày Trực): Sau khi mọi vật quy tàng, suy thoái cực điểm thì sự hanh thông, thuận lợi bắt đầu mở ra, giống như quẻ Thái trong kinh Dịch có ba hào âm ở trên giáng xuống, ba hào dương ở dưới thăng lên, báo hiệu thời kỳ sáng sủa, vẻ vang bắt đầu, các vật nhân dịp đó mà sinh sôi phát triển. Ngày có trực này là một ngày cát, được người ta sử dụng nhiều

 - Trực Bế (Trực thứ 12 trong 12 ngày Trực): Mọi việc gặp trở ngại, gian nan, khi chuẩn bị bước vào thời kỳ mới. Bởi thế nên giai đoạn này bất lợi cho nhiều việc mà ngày có trực này cũng ít được sử dụng

>>Cách Tính 12 Trực Như Thế Nào?

- Có câu "Tháng Nào Trực Nấy"

 + Tháng 1: Dần -> Kiên bắt đầu từ ngày Dần -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 2: Mão -> Kiên bắt đầu từ ngày Mão -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 3: Thìn -> Kiên bắt đầu từ ngày Mão -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 4: Tị     -> Kiên bắt đầu từ ngày Tị -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 5:  Ngọ -> Kiên bắt đầu từ ngày Ngọ -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 6: Mùi  -> Kiên bắt đầu từ ngày Mùi -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 7: Thân -> Kiên bắt đầu từ ngày Thân -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 8: Dậu  -> Kiên bắt đầu từ ngày Dậu -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 9: Tuất -> Kiên bắt đầu từ ngày Tuất -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 10: Hợi -> Kiên bắt đầu từ ngày Hợi -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 11: Tý   -> Kiên bắt đầu từ ngày Tý -> luân chuyển cho hết tháng
 + Tháng 12: Sửu -> Kiên bắt đầu từ ngày Sửu -> luân chuyển cho hết tháng

>>>Đọc thêm Ý Nghĩa 12 Trực

*Trực Kiên: Ngày có Trực Kiên là ngày đầu tiên trong 12 ngày trực. Đây được coi như một khởi đầu mới mẻ, sự nảy nở và sinh sôi. Ngày trực này vô cùng cát lợi cho các việc như: khai trương, nhậm chức, cưới hỏi, trồng cây, đền ơn đáp nghĩa. Xấu cho các việc động thổ, chôn cất, đào giếng, lợp nhà.

Khai phá ruộng vườn thuộc kiến

Năm mươi nhà cửa mới bình yên

Của tiền cha mẹ không thừa hưởng

Thân tự lập thân, phụ tự viên.Như núi non cao đến 40 tuổi thung dung dưỡng già. Nhỏ như thổ phá đôi nơi, người mà trưc ấy nửa đời gian nan. Của cha của mẹ không tham, một thân thôi lợi bạn cùng người dưng. Cửa nhà ăn ở chẳng xong, thiếu phước: đến 50 tuổi mới là thung dung. Nhờ vì đất cát phù sa, làm cho nên cửa nên nhà mới an.

*Trực Trừ: Ngày có Trực Trừ là ngày thứ hai trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn thứ hai vừa mang ý nghĩa cát lẫn hung. Nghĩa là bớt đi những điều không tốt đẹp, trừ đi những thứ không phù hợp và thay thế những thứ tốt hơn, chất lượng hơn. Ngày có trực này nên tiến hành các công việc như: trừ phục, dâng sao giải hạn, tỉa chân nhang, thay bát hương… Bên cạnh đó cũng không nên làm các việc như chi xuất tiền lớn, ký hợp đồng, khai trương, cưới hỏi.

Trực trừ thuộc tính thâm trầm

Nhân hậu hiền hòa có thiện tâm

Tuổi trẻ nhiều phen còn lận đận

Về già hưởng phúc lộc do cần.

Như nước mà tưới cây khô, trái cây không có bơ vơ 1 mình. Mộc thì nết ở thiệt thà, Người mà trực ấy từ hòa ngữ ngôn. Đàn bà tốt số nuôi con. Đàn ông không được công danh tước quyền.

*Trực Mãn: Ngày có Trực Mãn là ngày thứ ba trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn phát triển sung mãn của vạn vật, đi đến vẹn toàn và đủ đầy. Ngày có trực này nên làm những việc như cúng lễ, xuất hành, sửa kho. Ngoài ra cần lưu ý ngày này xấu cho việc chôn cất, kiện tụng, hay nhậm chức.

Thông minh hào phóng tính trời cho

Gia thất, thê nhi thật khỏi lo

Người đẹp để sầu bao kẻ lụy

Sông kia bến cũ mấy con đò.

Tánh ta như núi thái sơn, khôn ngoan trí huệ nào ai dám bì. Sanh con nuôi dưỡng bù chi. cầm vật ật đậu, bạn bè yêu thương. Cũng nhờ núi cả non cao, thú cầm đầy đủ liễu đào thiếu chi. Nghiệp nghê như đất phù sa. Hễ tầm làm ruộng cửa nhà phong lưu.

*Trực Bình: Ngày có Trực Bình là ngày thứ tư trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn lấy lại bình hòa cho vạn vật. Vì thế mà ngày có trực này mọi việc đều tốt. Tốt nhất cho các việc di dời bếp, giao thương, mua bán.

Trực bình thuộc thủy tính nước dương

Tài trí khôn ngoan đủ mọi đường

Gái đẹp, trai hiền mà thẳng thắn

Cháu đàn con lũ khéo lưu phương.

Bình thủy như nước trong sông, sóng đâu có dợn đầu dòng xuyên hoa. Người mà trực ấy đãi đằng, thì lành nết ở giữ gìn mới hay. Sanh con cầm vật lợi tài, nhờ vì núi cả non khai nước nhiều. Bình thì như cây trời ương, sóng sao mặc sóng trong lòng không sao.

*Trực Định: Ngày có Trực Định là ngày thứ năm trong 12 ngày trực. Cũng giống như Trực Bình, Trực Định cũng mang những ý nghĩa tốt đẹp về sự vẹn toàn, đủ đầy. Ngày có trực này nên làm các việc buôn bán, giao thương, làm chuồng gia súc. Bên cạnh đó, cần tránh các việc như thưa kiện, xuất hành đi xa.

Mộc tinh trực định sống thanh thản

Dù gặp tai nguy cũng hóa an

Nữ mệnh lấy chồng nam mệnh quý

Không giàu thì cũng thuộc nhà sang.

Như mộc cây hãy đương tươi, người mà trực ấy ăn chơi thanh nhàn. Đàn ông có số làm quan, đàn bà hòa khẩu ngữa ngang với chồng. Có con cũng đủ làm xong, bởi vì tươi tốt nên trái bông thiếu gì.

*Trực Chấp:  Ngày có Trực Chấp là ngày thứ sáu trong 12 ngày trực. Khác với Trực Bình, Trực Định thì Trực Chấp mang ý nghĩa giữ gìn, bảo toàn nhưng lại có tâm lý “cố chấp”, bảo thủ, không chịu tiếp thu những cái mới mẻ. Đây cũng là giai đoạn báo hiệu sắp xảy ra một thời kỳ suy thoái. Ngày có trực này tốt cho các việc tu sửa, tuyển dụng, thuê mướn người làm. Ngoài ra nên chú ý không nên xuất nhập kho, truy xuất tiền nong, an sàng.

Khẩu phật tâm xà, tính trương phi

Chấp hỏa lôi hoanh nóng kể chi

Lận đận nhiều phen vì lửa giận

Năm mươi tài lộc phúc triều quy.

Như lửa mà tưới muôn xe, người mà trực ấy luôn nghe phừng phừng. Người mà trực ấy thông minh. khéo tay lẹ miệng lành ngoài dữ trong. Không giận, giận đến thì hung. Ai phải phải cùng ai trái chẳng cho. Nhớ xưa đại thành mồ hồ, phá tan núi lửa đốt cho không còn. Thiết là lửa ở trong xe, ai mà vừa thốt tai nghe rõ ràng.

*Trực Phá: Ngày có Trực Phá là ngày thứ bảy trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn báo hiệu những sụp đổ của những thứ lỗi thời, cũ kỹ. Cho nên, việc tốt nên làm trong ngày có trực này là đi xa, phá bỏ công trình, nhà ở cũ kỹ. Cần lưu ý thêm rất xấu cho những việc mở hàng, cưới hỏi, hội họp.

Phá hỏa đây là lửa cháy rừng

Suốt đời vì bạn phải gian truân

Lôi đình sấm dậy thê nhi khóc

Yêu ghét buồn vui nói thẳng thừng.

Phá lửa đốc non. Người mà trực ấy thôn son một mình. Hết lòng hết dạ tin người, một lời sẩy mái phủi rồi tay không. Của tiền có cũng như không, thoạt giàu thoạt khó chẳng xong đều nào. Đàn ông sang trọng vậy thì, đàn bà ở đó cũng là gian nan. Cũng vì hỏa phát hãm sơn, nào ai có biết nghĩa nhơn cho mình.

*Trực Nguy: Ngày có Trực Nguy là ngày thứ tám trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn báo hiệu sự nguy hiểm, suy thoái đến cực điểm. Ngày có trực này cực kỳ xấu, rất ít người lựa chọn làm các công việc làm ăn kinh doanh buôn bán, động thổ, khai trương hay cưới xin, thăm hỏi. Vào ngày có Trực Nguy nên làm lễ bái, cầu tự, tụng kinh.

Trực nguy là nước chảy loanh quanh

Mưu chước đi đôi với bại thành

Đa mệnh, đa tài, đa hệ lụy

Phong lưu âu cũng số trời xanh.Cũng như sóng bủa ba đào, người mà trực ấy âm hao một mình. Khôn ngoan, quỷ quyệt lợi lành, vinh hoa có thuở hiểm nghèo nhiều phen. Đàn ông sang trọng vậy thì, đàn bà ở đó cũng là gian nan. Số thì như nước trong khe, thay lưng đổi gối mới nhiều người thương.

*Trực Thành: Ngày có Trực Thành là ngày thứ chín trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn cái mới được khởi đầu, tạo ra và hình thành. Chính vì vậy, ngày có trực này rất tốt. Nên làm các việc như nhập học, kết hôn, dọn về nhà mới. Tránh các việc kiện tụng, cãi vã, tranh chấp.

Trực thành là kiếm của trời ban

Đời trai ngang dọc giữ giang san

Nữ nhi khuê các buồn tơ liễu

Nhung lụa vàng son lệ vẫn tràn.

Kim vàng mà đúc song phi, nhứt nhơn lưỡng kiếm ai mà dám đương. Người mà trực ấy thông minh, khôn ngoan trí huệ, kiêu căng nhiều bề. Đàn ông mỹ tốt xuyến xao, đàn bà ở đó vui chiều buồn mai. Cũng vì hơn thiệt so đo, lướt xông trận thượng so đo một mình.

*Trực Thâu: Ngày có Trực Thâu là ngày thứ mười trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn gặt hái thành công, thu về kết quả. Ngày có trực này nên làm các việc mở cửa hàng, cửa tiệm, lập kho, buôn bán. Không nên làm các việc như ma chay, an táng, tảo mộ.

Trực thâu là nước ở hồ tiên

Là lẫm, là kho chứa bạc tiền

Gái giỏi tề gia ích phu tử

Trai vì khắc khổ họa đeo phiền.

Cũng như thủy ở trên ngàn, tuy không ao chứa mà đầy giáp năm. Người mà trực ấy đãi đằng. thì lành nết ở giữ gìn mới hay. Sanh con cầm vat thạnh tài, nhờ vì núi cả non đoài nước trong. Mẹ cha dầu có dưỡng nuôi, cũng như nước chảy giữa dòng sơn khê.

*Trực Khai: Ngày có Trực Khai là ngày thứ mười một trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn mọi vật sau khi quy tàng, thì thuận lợi, hanh thông bắt đầu mở ra. Ngày có trực này thường được nhiều người sử dụng để làm các việc lớn như động thổ làm nhà, kết hôn vì đây là ngày có nhiều cát lành, may mắn. Bên cạnh đó, cần lưu ý kiêng các việc như an táng, động thổ vì người ta quan niệm nó không được sạch sẽ.

Trực khai sinh thuận giống vàng mười

Học giỏi, thông minh thích nói cười

Trai đỗ đạt cao gái phận mỏng

Chồng ghen còn khổ kém vui tươi

Kim vàng mà đúc song thoi.

Kẻ thời đúc xuyến người thời đúc hoa.

Người mà trực ấy thảnh thơi, thay chồng đổi vợ nửa đời mới an. Đặng tài trí huệ thông minh, thung dung khỏi lụy, ít phiền khỏi âu. Nữ như vàng xuyến đeo tay, quan yêu dân chuộng.

*Trực Bế: Ngày có Trực Bế là ngày cuối cùng trong 12 ngày trực. Đây là giai đoạn mọi việc trở lại khó khăn, gặp nhiều gian nan, trở ngại. Ngày có trực này thường không được sử dụng cho các việc nhậm chức, khiếu kiện, đào giếng mà chỉ nên làm các việc như đắp đập đê điều, ngăn nước, xây vá tường vách đã lở.

Trực bế bốn bên đóng lại rồi

Một mình tự lập, một mình thôi

Tính hỏa nên thường hay nổi giận

Dang dở công danh lẫn lứa đôi.

Kim vàng mà đúc đương đeo.

Người mà trực ấy chẳng đều thung dung. lòng nam lo bắc chẳng xong, chính chuyên lao khổ chưa xong bề nào. Được tài nết ở người thương, khéo luồng, khéo cúi miệng cười có duyên. Cũng vì sòng bủa mùa đông. lao đao đủ thứ chưa xong bề nào. 

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

ĐỌC THÊM CÁCH DỰ ĐOÁN THEO BÁT MÔN CỬU CUNG CỦA GIA CÁT LƯỢNG

 

Khi dự định tiến hành một công việc gì, ta muốn dự đoán xem tốt xấu ra sao. Dựđịnh vào tháng nào, ta tìm cung có chứa tháng dự báo trong bảng BÁT MÔN. Đểtính ngày đầu của tháng (ngày mồng một). Tính theo chiều thuận đến ngày tiến hành công việc. Từ ngày này ta khởi giờ Tý đến giờ tiến hành công việc, rơi vào cung nào trong BÁT MÔN, ta xem cung ấy thuộc cung: KINH-KHAI... xem lời giải, nếu rơi vào cung xấu ta điều chỉnh giờ cho vừa ý.

Ví dụ:Ta định tổ chức đám cưới vào giờ ngày mồng sáu tháng hai Âm lịch. Tháng hai nằm tại cung Thương. Từ cung Thương ta khởi mồng một đến cung Khai là mồng sáu, từ cung Khai, ta tính giờ Tý thuận chiều tới cung Tử là giờ Ngọ tại cửa Khôn ta xem giải đoán ở cửa khôn cung Tử có tín hiệu phân ly xấu. Ta dời lại giờ thân tại Khai cửa càn lời giải tốt, tháng ba là Thổ. Thổ sinh Kim hôn nhân thuận lợi, tốt. Các việc khác cũng tính như vậy.

 >>NGŨ HÀNH VƯỢNG TƯỚNG

Đương sanh giả vượng. Ngã sanh giả tướng. Sanh ngã giả hưu, Ngã khắc giả tử. Khắc ngã giả tù.

Tỷ như mùa Xuân thuộc Mộc xem gặp quẻ Mộc gọi là đương sanh giả vượng là tốt. Mùa Hạ thuộc Hỏa, xem gặp quẻ Mộc, tức là Mộc sanh Hỏa gọi là ngã sanh giả tướng, tốt. Mùa Thu thuộc Kim gặp quẻ Mộc, tức là Kim khắc Mộc gọi là khắc ngã giả tù, xấu. Mùa Đông thuộc Thủy gặp quẻ Mộc, tức Thủy sanh Mộc gọi là sanh ngã giả hưu, phải trễ nải.

Tứ quí là tháng Ba, Sáu, Chín và Chạp thuộc Thổ gặp quẻ Mộc, tức Mộc khắc Thổ gọi là ngã khắc giả tử, xấu. Các quẻ hành khác do theo đó mà luận.

BỐN MÙA VƯỢNG TƯỚNG

Mùa Xuân: tháng Giêng, Hai thuộc Mộc: thì hành Mộc vượng, Hỏa tướng, Thủy hưu, Kim tù, Thổ tử.

Mùa Hạ: tháng Tư, Năm thuộc Hỏa: thì hành Hỏa vượng, Thổ tướng, Mộc hưu. Thủy tù, Kim tử.

Mùa Thu: tháng Bảy, Tám thuộc Kim: thì hành Kim vượng, Thủy tướng, Thổ hưu, Hỏa tù, Mộc tử.

Mùa Đông: tháng Mười, Mười Một thuộc Thủy: thì hành Thủy vượng, Mộc tướng, Kim hưu, Thổ tù, Hỏa tử.

Tứ quí: tháng Ba, Sáu, Chín, Chạp thuộc Thổ: thì hành Thổ vượng, Kim tướng, Hỏa hưu, Mộc tù, Thủy tử.

Được vượng tướng tốt, hưu tầm thường, tử tù xấu.

 A. QUYẾT VỀ BÁT MÔN

Hưu môn dễ gặp quý nhân.

Đổ môn là chốn ẩn thân an toàn

Cảnh môn chè chén đoàng hoàng

Tử môn săn bắn sửa sang mộ phần

Kinh môn bắt trộm dễ dàng

Sinh môn buôn bán lại càng lãi ra

Khai môn giá thú chơi xa.

Thương môn đòi nợ hẳn là xong xuôi.


B. 
BÁT MÔN PHÚ CHƯỞNG

Luận từ Thái Cực sơ phân,

Âm dương nhị khí xoay vần lưỡng nghi.
Lập thành Bát quái định vi,
Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Không Đoài.
Mới sanh từ thử dĩ lai,
Tỏ đặng lòng trời thông sự quốc gia.
Lập làm Bát quái truyền ra,
Sửa sang việc nước, việc nhà cho an.
Kiết hung mỗi sự, mỗi tàng,
Ngũ hành phân xét liệu toan tỏ bày.
Chỉ xem tám vị ngón tay,
Biết lẽ trời đất chuyển xoay dữ lành.
Màn chi Quỉ Cốc tiên sanh,
Màn chi đại định, võ kinh kỳ cầm.
Màn chi Đại độn Lục nhâm,
Màn chi huyền mạng nham nhâm toàn đồ.
Màn chi Du Lỗi nhị đô,
Màn chi lịch phụ thông thơ pháp mầu.
Việc đời đại sự đổi thay,
Rủi may đâu dễ nào ai biết tình.
Đời Đường Lý Tịnh tiên sinh,
Đại Hớn Gia Cát Khổng Minh dạy truyền.
Sanh môn tại Cấn tháng Giêng,
Cai nội danh gọi đặt lên cung Dần.
Tháng Hai, tháng Ba mẹo cung,
Thương Môn tại Chấn là trung nội tù.
Tháng Tư thuận tiến một ngôi,
Đổ môn cung Tốn vậy thời khởi đi.
Tháng Năm, tháng Sáu thuộc Ly,
Kiển môn tại Ngọ vậy thì cho thông.
Tháng Bảy thì khởi tại Khôn,
Tử môn là hiệu cho thông cai ngoài.
Tháng Tám, tháng Chín khơi Đoài,
Kinh môn tháng ấy trong ngoài phân minh.
Tháng Mười tại Càn đinh ninh,
Khai môn đó gọi là nơi Kim ngoài.
Tháng Một, tháng Chạp vừa hai,
Khởi ngay tại Khảm thiệt bài Hưu môn.
Tám cửa tìm khởi đã xong,
Ngày giờ cho biết kẻo còn hồ nghi.
Tháng nào mùng một khởi đi,
Ngày đâu giờ đó tức thì cứ tra.
Tý Ngọ Mẹo Dậu vậy là,
Ấy thật quẻ nhứt chẳng ngoa an bài.
Thìn Tuất Sửu Mùi quẻ hai,
Bán hung, bán kiết vậy thời kể ra.
Dần Thân Tỵ Hợi quẻ ba,
Muôn việc chẳng hòa chỉnh thiệt xấu thay.

 C. LUẬN VỀ BÁT MÔN

 1.KHẢM: HƯU MÔN

Khảm là Thuỷ, hướng Bắc, cửa Khảm gặp mùa Đông vượng, Xuân hưu, Hạ tù, Thu tướng: nên tu tạo, trị bệnh, hành quân, mưu vọng, hội kiến, gặp gỡ đều hanh thông, nhập trạch, xuất hành đều tốt. Nếu ngày đó ở ngày dương ra ngoài sẽ gặp đàn ông quý, nếu là ngày âm sẽ gặp phụ nữ quý, kiêng kỵ bạo lực. Hôn nhân lúc đầu tốt sau phân ly, cầu tài kinh doanh khó khăn, câu chuyện đang tiến hành không đi đến đâu, người đi xa chưa về, của mất không thấy, đi thăm hỏi không gặp.

2.KHÔN: TỬ MÔN

Ở vào hướng Tây Nam, thổ vạn vật chết ở thổ nên cửa tử là thổ. Mùa xuân thổ tử. Mùa hạ thổ tướng, mùa thu thổ hưu, mùa đông thổ tù. Cửa này báo hiệu hình ngục, điếu tang, ly tán, đi xa, dễ bệnh tật nên quyết đoán. Ngày có hung tinh  mạnh ra đường sẽ gặp kẻ bị nạn hoặc chứng kiến cảnh khóc than. Những việc kiện tụng kỵ vào ngày có tử môn. Hôn nhân nửa đường phân ly, kinh doanh thua thiệt, công việc tiến hành sẽ gian nan, người đi xa chưa về, của mất không tìm được, dạm hỏi không kết quả, bệnh nặng khó qua, đi thăm người nguy nạn, xung đột hai bên đều thiệt.

3 CHẤN: THƯƠNG MÔN

Cửa chấn ở cung mão, thuộc mộc, phương đông, mùa xuân vượng, mùa hạ hưu, mùa thu tử, mùa đông tướng. Không nên hạch sách, trách mắng, nên xuất quân, ra đi từng đoàn, cầm giữ, đánh cá, nếu ra khỏi cửa thấy sáng lửa hoặc gặp người chặt cây là hung.

Nên bình tĩnh, an định vì chưa có thể thắng được. Hôn nhân, ban đầu trục trặc sau hoà hợp. Kinh doanh bị khẩu thiệt sau có lợi nhỏ. Tiến hành công việc vào ngày hợi, ngày sửu sẽ thuận lợi. Người đi xa đang gặp khó khăn nhiều bề, của mất không tìm được, người mình muốn kết hôn dã thất tiết, bệnh tật khó khỏi xung đột giao tranh luỵ đến bản thân.

4.TỐN: ĐỔ MÔN

Cửa tốn hướng đông nam (gió nóng, đông hạ giao tiếp) thuộc mộc. Mùa xuân vượng, mùa hạ hưu, mùa thu tử, mùa đông tướng. Cửa đổ là bế tắc, ngăn lấp, không nên đi trừ gian, trên đường sẽ gặp sự bức bách, gặp kẻ hung tàn. Nếu đi trốn tránh gặp quý nhân. Kỵ đắp đập ngăn chặn nguồn nước. Hôn nhân khó thành, kinh doanh có lợi song mất của. Việc dự định tiến hành sẽ mắc sai lầm khó khăn, người đi xa gặp gian nan, của mất không rõ ràng, người định kết duyên là người trinh trắng, bệnh sẽ khỏi. Tránh xấcc cuộc xô xát ẩu đả.

5.CÀN: KHAI MÔN

Càn là tượng trời, hướng tây bắc thuộc kim (mọi cái thành tựu những cũng là thời bế tác vì tuần dương). Mùa xuân kim tù, mùa hạ tử, mùa thu vượng, mùa đông hưu. Nên đi xa, chinh phạt,đón rước, giao dịch, ăn uống, nhậm chức, mưu vọng, ứng cử, giá thú, di chuyển, kinh doanh, động thổ. Ra cửa thường gặp chè chén hoặc quý nhân, hôn nhân thuận lợi, phát vinh hoa. Kinh doanh tấn tài, tấn lộc. Việc đang dự định nê thúc đẩy, người đi xa đã về gần nhà, của mất tìm thấy, bệnh nặng sẽ khỏi, đi thăm người toại nguyện.

6.ĐOÀI : KINH MÔN

Cửa đoài hướng tây, cung dậu thuộc kim mùa thu vượng, mùa đông hưu, mùa xuân tù, mùa hạ tử. Các tháng thổ tướng

Đoài : thuộc kim hướng tây thiếu nữ, tính vui vẻ, mùa xuân tù, mùa hạ tử, mùa thu vượng, mùa đông hưu. Mùa thổ tướng buộc các thảo mộc phải tiêu diệt, nên mở sự bế tác, giải hoà, làm việc công, nắm chắc phần thắng. Việc tốt, nếu vào tháng hoả, tháng mộc, có khi bị nguy. Việc xấu nếu vào tháng thổ hoặc mùa thu có khi được bao che. Ra đi một cách hùng dũng thì đạt. Nếu ra đi theo hướng tây đề phòng tai nạn chân tay. Hôn nhân : đề phòng cô độc, cuộc tàn; kinh doanh đứng đắn có lợi, việc định tiến hành có khó khăn dù mình ngay chính, người đi xa tin tức chưa rõ, của mất tìm ở phương tây, bệnh trọng nguy nan, nên tránh xa nơi có xung đột.

7.CẤN : SINH MÔN

Cấn hướng đông bắc thuộc thổ : gặp kim hưu, mùa xuân và đông thì tử, mùa hạ tướng, tháng thổ thì vượng tinh nhanh, nên : chinh thảo, mưu vọng, nhận quan, tiếp kiến quý nhân, giá thú thì tốt, mưu sự thành, yết kiến được thân. Không nên xâm phạm cái gì đó, ra đi cửa Sinh gặp được nghề khéo; hôn nhân như ý, tăng phú quý, tài lộc, kinh doanh dù khó khăn nhưng sau thành đạt. Việc dự định tiến hành diễn biến rất tốt; người đi xa vô sự bình an trở về, bệnh dù nặng cũng khỏi; tranh đấu thắng lợi, của mất không phải ở nhà.

8.LY : CẢNH MÔN

Ly ở chính nam thuộc hoả, mùa xuân hoả tướng, mùa hạ hoả vượng, mùa thu hoả tù, mùa đông hoả tử. Nên nhận người làm, mưu lược đột phá vây ; đi xa phải cẩn thận vì có thể bị yểu vong giữa đường ; hôn nhân nửa chừng ly tán, kinh doanh đi xa đại lợi. Người đi xa có tin, của mất tìm thấy, bệnh nặng qua khỏi.

>>>Đọc thêm: Phương pháp tính : Nhân Tam Trừ Cửu (x3-9)

Ví dụ : người tuổi 69, bị bệnh ngày 4 tháng 5 (69+4+5 = 78 x 3 = 234 : 9 = 26) hết, không dư là tận số, dư 1 thì bệnh qua loa, dư 6 bệnh kéo dài, tốn kém, dư 3 lay lắt ít ngày, dư 2,4,5,7,8 thì bình ổn. 





Thứ Hai, 5 tháng 4, 2021

Đọc thêm vị trí đặt giếng, đào giếng khoan theo phong thủy

 

Trong phong thủy có câu “Sơn quản nhân định, thủy quản tài lộc” chính vì vậy, việc điều chỉnh vị trí của giếng khoan là chính bạn đang điều chỉnh sự thịnh vượng hay suy kiệt của chính gia chủ trong căn nhà này. Nếu căn nhà đang ở hướng vượng khí nhưng khoan giếng phá bố cục sẽ làm cho vượng khí rơi xuống giếng gây ảnh hưởng rất lớn cho kinh tế giá chủ.

Theo phong thủy: đào giếng là thủy động và thuộc dương cho nên cần tránh đào trên 12 chữ địa chi ( 12 con giáp: tý, sửu, dần…) mà nên đào trên các hướng có tính thiên can (Giáp, ất, bính, đinh, canh, tân, nhâm quý) mới hợp với tính chất của thủy ộng – Có câu nói rằng “Vạn thủy vô tòng thiên thướng khứ” ý nói đến ngàn dòng nước đều theo hướng thiên can mà chảy – cho nên khoan giếng nên chọn những hướng này. Và trong thiên can thì lại chia ra làm âm thiên can (ất, tân, đinh, quý) và dương thiên can (giáp, canh, bính nhâm). Nên lựa chọn các sơn Tân, Quý, Ất, Đinh, Cấn, Tốn trong 24 sơn trên La Bàn để khoan. Cần chú ý thêm một chút về địa thế khi khoan giếng, đặc biệt tránh vị trí chính giữa ngôi nhà. Đây là 2 vị trí xung khắc và dễ làm tiêu tan tài lộc và vượng khí của gia chủ.Tính chất là thủy động thuộc dương nên lựa chọn dương thiên can sẽ mang lại nhiều tiền tài cho gia chủ.

>Một vài lưu ý:

1. Không khoan giếng giữa nhà ở, để tránh Thủy khắc Thổ

2.. Tuyệt đối tránh các địa chi

3.. Loại bỏ Mậu và Kỷ, còn lại toàn bộ các thiên can khác đều tốt

4.. Tránh đào giếng đối diện với bếp ăn

5.. Tránh giếng khoan hướng Tây, Tây Bắc

6.. Tất cả Tứ ngung đều tốt, tránh Tốn.

KHÔNG ĐẶT GIẾNG Ở PHƯƠNG TỌA NGÔI NHÀ

Phong thủy phương Đông quan niệm rằng, vị trí nhà cần phải ở nơi có địa hình cao, vững chắc, như vậy vượng  khi sẽ chiếu tới giúp mọi người trong gia đình khỏe mạnh.

Tuy nhiên, khi khoan giếng nếu đặt ở phương tọa độ của ngôi nhà sẽ khiến “vượng sơn hạ thủy” tức là vượng khí sẽ rơi xuống giếng, không may mắn cho gia chủ.

KHÔNG ĐÀO GIẾNG ĐỐI DIỆN BẾP

Giếng thuộc hành Thủy tính âm trong khi đó bếp là hỏa tính dương, chúng xung chiếu lẫn nhau và gây ra điểm xấu.

Ngoài ra, giếng đặt cạnh bếp cũng gây mất vệ sinh, dễ gây ô nhiễm nguồn nước. Vì vậy cần lưu ý vấn đề này để xác định vị trí khoan giếng phù hợp.

Thông thường, khi khoan giếng, ngoài nhờ sự hỗ trợ của đội ngũ kĩ thuật, các gia chủ đều chủ động mời thầy phong thủy để xem xét vị trí đặt giếng. Tuy nhiên, nếu bạn tìm được vị trí phong thủy phù hợp cũng chưa chắc đào được giếng. Phong thủy chỉ xếp thứ 3 khi quyết định vị trí đào giếng. Hãy nhớ kĩ câu này: Nhất vận, nhị mạng, tam phong thủy. Vì thế dù chọn vị trí khoan giếng theo phong thủy nhưng để vẹn toàn hơn chúng ta vẫn nên tìm được vị trí của mạch nước ngầm để khoan, đào giếng. Trước khi đào giếng nên tụng kinh, khấn vái cẩn thận và đúng cách. Điều này sẽ giúp bạn gặp được thuận lợi khi khoan. Việc trấn yểm giếng cạn bằng đá thạch anh không thực sự quá cần thiết. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng xi măng như một phương án thay thế rẻ tiền và hiệu quả. 

>Nước giếng thanh mát, không gian xanh tốt là dấu hiệu cho thấy giếng này sở hữu vượng khí tốt. Nếu muốn xây nhà, chỉ cần thay đổi cấu trúc sao cho phù hợp với giếng là được. Sinh sống ở nơi đây sẽ giúp cho gia đình con đàn cháu đống, gia đình hòa thuận. Việc học tập và làm ăn của con cháu trong gia đình cũng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. 

 

 

 

Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Đọc thêm về Lục thập hoa giáp với nguyên lý ngũ hành


Mọi sinh vật sống trong vũ trụ đã được nhận định theo luật âm dương. Cây cỏ cũng có hoa đực hoa cái, côn trùng con kiến cũng có con cái con đực, cho đến vật dụng hàng ngày hầu như cũng dị biệt giữa đực và cái . Luật âm dương chi phối vũ trụ mọi sự sinh hoạt . Không gian đã có thiên là phải có địa. Thời gian càng chịu ảnh hưởng nhiều hơn.

Đã có mùa đông giá lạnh, phải có mùa hạ nóng hầm, mùa xuân ấm tươi, phải có mùa thu dịu tàn.

Âm dương là tinh thần, phần vật chất là ngũ hành, Thiên can là dương, Địa chi là âm. Thiên can có ngũ hành của Can, Địa chi có ngũ hành của Chi. Ngũ hành của Can có cái dương và cái âm. Địa chi cũng vậy . Âm dương ngũ hành của Can có 10 chữ rất rành mạch. Nhưng địa chi sao lại 12, thấy trội dư 2 cái Thổ (1 dương và 1 âm) .

Thấy rằng thời gian của 4 thời tiết từ cái xanh tươi (xuân) đến nắng gắt (hạ) lần theo mát dịu (thu) kế tiếp lạnh lẽo (đông) rồi lại nối đến xanh tươi (xuân)... thời gian cứ quanh quẩn như thế phải mất trên 365 khoảng mặt trời đồng thời gian đêm tối.

Căn cứ theo đó đăt tên là 1 năm có 365 ngày trung bình. Khoảng thời gian này cứ cách 2 lần lại phải điều chỉnh thêm chút ít cho đúng như thời tiết luân lưu . Đó là năm nhuận dầu rằng âm lịch hay dương lịch cũng vậy (1). Một đằng tính 29 hay 30 ngày làm một tháng (âm lịch) một đằng lấy 30 hay 31 ngày là một tháng (trừ tháng 2  có 28 ngày) thì đến năm nhuận , một đằng lấy thêm một tháng , một đằng lấy thêm một ngày  cho vào tháng 2 là 29 ngày.

Khoảng 365 ngày căn cứ theo 4 mùa, nếu cũng lấy 10 địa chi như bên can thì chia nó lệch lạc, phải lấy thêm 2 cái thổ để ấn định  thêm 2 tháng, mỗi tháng khoảng chừng 30 ngày , tức mỗi mùa 3 tháng tròn , cứ như thế luân lưu lấy 4 mùa làm một khoảng thời gian chủ đích làm 1 năm.

Đáng lý 10 hoa giáp vào  với 12 chi sẽ thành 120, nhưng xếp dương vào với dương, âm đứng với âm (can và chi) nên chỉ còn con số 60 gọi là 60 hoa giáp.

Lục thập hoa giáp chính là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60. Vậy lục thập hoa giáp là gì?

Cách sắp xếp của bảng lục hoa giáp

Cách xắp xếp của bảng lục thập hóa giáp rất rộ ràng, từ Tý khởi đầu cho đến Lục âm Hợi của 12 địa chi.

– Hai vị Tý và Sửu là sự kết hợp âm dương vừa mới thụ thai, với con người thì coi như giai đoạn phát triển đầu tiên còn ở trong bào thai mẹ. Với vạn vật nói chung là giai đoạn tàng ẩn trong hạt, quả, gốc rễ mà mắt thường khó nhận ra được.

– Hai vị Dần và Mão là âm dương bắt đầu xuất hiện có thể nhìn thấy được, với con người là lúc vừa lọt lòng mẹ. Với vạn vật là giai đoạn nảy mầm, hình thành cây trái.

– Hai vị Thìn và Tỵ là giai đoạn âm dương bắt đầu thịnh vượng, vạn vật ở vào giai đoạn phát triển, con người ở vào giai đoạn thành tựu, chín chắn.

– Hai vị Ngọ và Mùi Ịà âm dương đã hiển lộ rõ rang, vạn vật phát triển đến giai đoạn cực thịnh. Với con người đã đến 50, 60 tuổi. Đời người vượng suy, giàu nghèo sang hèn cũng đã có thể biết được.

– Hai vị Thân và Dậu là âm dương đã bắt đầu thu lại, vạn vật rồi cũng đi đến tận cùng trở về trạng thái tĩnh lặng.

– Hai vị Tuất và Hợi, âm dương đã được khống chế, sức sống của vạn vật đã hoàn nguyên, lá rụng về cội, con người đã được nghỉ ngơi trở về cội nguồn.

Bảng nạp âm lục thập hoa giáp theo tuổi

Trong bảng nạp âm lục thập hoa giáp, chia làm 30 biểu tượng về ngũ hành nạp âm sau đây:

(1) Giáp Tý, Ất Sửu: Hải trung kim

Ngũ hành của địa chi Tý là thủy, thủy được coi là hồ, sông, biển lơn, nơi đó thủy thịnh vượng.

Theo vòng trường sinh kim cục, Tử ở Tý và Mộ ở Sửu, thủy ở thế vượng mà kim lại tử ở đó nên người ta gọi là Hải trung kim.

(2) Bính Dần, Đinh Mão: Lô trung hỏa.

Dần Mão ở địa chi là ngôi thứ 3 và thứ 4, ngũ hành là mộc, thiên can Bính, Đinh trong ngũ hành thuộc hỏa. Hỏa đã ở chính ngôi lại được Dần Mão thuộc Mộc trợ giúp, giai đoạn này trời đất ấm nóng lên như lửa trong lò mới bắt đầu, vạn vật mới bắt đầu sinh trưởng nên gọi là Lô trung hỏa.

(3) Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: Đại lâm mộc.

Thìn Tỵ là 2 địa chi thuộc ngôi thứ 5 và 6, Thìn thổ đại diện cho đất đai ẩm ướt và hoang dã. Mộc ờ đất này phát triển tốt cây lá xum xuê, cây to lớn mọc thành rừng nơi đất hoang dã nên gọi là Đại lâm mộc.

(4) Canh Ngọ, Tân Mùi: Lộ bàng thổ

Mùi là địa chi ngôi thứ 8, Mùi thổ, nơi dưỡng mộc, mộc sinh hỏa làm cho Ngọ hỏa càng vượng. Ngọ hỏa vượng lại đốt thổ làm cho thố bị khô hạn cho nên thổ bị hại coi mình như bụi ven đường nên gọi là Lộ bàng thổ.

Lộ bàng thổ nếu được thủy tưới, có thể quay về với thổ mà sinh ra vạn vật, nếu được kim giúp thì có thể xây được cung điện phú quý.

(5) Nhâm Thân, Quý Dậu: Kiếm phong kim.

Thân Dậu thuộc ngôi thử 9,10 của địa chi, ngũ hành là kim và nằm trong giai đoạn phát triển của vạn vật. Theo vòng trường sinh kim cục thì Thân tọa ở “Lầm quan” Dậu tọa ở “Đế vượng”. Vậy Thân Dậu là nơi cực vượng của kim cục. Do đó kim ở đây rất cương cứng. Sự vật cương cứng thì không thể vượt qua được mũi kiếm, kim cứng được coi như mũi kiếm, nên gọi là Kiếm phong kim.

(6) Giáp Tuất, Ất Hợi: Sơn đầu hỏa

Tuất, Hợi trong địa bàn thuộc phương Tây Bắc, thuộc quái càn – càn biểu tượng của trời Tuất, Hợi là nơi cửa trời. Thiên can Giáp, Ất phương Đông thuộc ngũ hành mộc, mộc ở nơi cửa trời như gỗ cháy soi sáng cửa trời, ánh lửa chiếu sáng trên cao, cho nên gọi là lửa trên núi. Hoàng hôn, mặt trời xuống ngang núi, chiếu sáng lung linh cho nên lửa trên núi phản ánh được ráng trời.

Sơn đầu hỏa có thể thông với trời, người mệnh này hiển vinh và quý phái. Tuy nhiên núi phải có cây, lửa ở cửa trời kỵ gặp thủy, nếu gặp Đại hải thủy (Nhâm Tuất, Quý Hợi) thì nguy khốn.

(7) Bính Tý, Đinh Sửu: Giản hạ thủy

Vòng trường sinh thủy cục, Đế vượng ở Tý và Suy ở Sửu. Thủy vượng ở Bính Tý, lại suy ở Đinh Sửu, nên không thể là nước sông to mà chỉ là nước ở khe suối. Sau cơn mưa, nước từ sườn núi đổ xuống khe, khe hợp lại thành suối, nước theo dòng chảy xiết va vào đá mà bắn tung tóe, suối hợp lại thành dòng lớn, thành sông chảy về biển.

Nước khe núi là nước đầu nguồn, thủy gặp được kim phù hợp là kim trong cát và kim mũi kiếm (kim trong cát là: Giáp Ngọ, Ất Mùi, còn Kim mũi kiếm là Nhâm Thân, Quý Dậu.)

Thủy không gặp được mệnh của thổ và hỏa, thủy hỏa chẳng dung nạp nhau, thổ chỉ làm bẩn nước, tốt nhất là gặp Đại khê thủy (Giáp Dần, Ất Mão), tức nước suối nho nhỏ hợp thành sông là hợp với đạo trời.

(8) Mậu Dần, Kỷ Mão: Thành đầu thổ

Địa chi Dần Mão, ngũ hành mộc, thiên can Mậu Kỷ ngũ hành thổ, thổ trung ương. Hình tượng cây cối mọc xung quanh thành liên tưởng đến khái niệm tích thổ thành núi, đắp đất thành tường nên gọi là đất trên thành.

Kinh đô nơi Hoàng đế cư ngụ gọi là thành, thành xưa kia đắp bằng đất, xây bằng gạch, uy thế bốn phương.

Mệnh này gặp nước, gặp núi là hiển vinh, trong thành gặp núi giả, nước tù thì không tốt. Kỵ gặp Đại hải thủy (Nhâm Tuất, Quý Hợi) Tích lịch hỏa (Mậu Tý, Kỷ Sửu).

(9) Canh Thìn, Tân Tỵ: Bạch lạp kim.

Kim vốn sinh ra từ trong lòng đất, nhưng lại nhờ có hỏa mà hình thành vật dụng hữu ích. Ở đây hình thái của kim đã bắt đầu hình thành nhưng độ cứng rắn chưa có, nên gọi là kim giá đèn (Bạch lạp kim) Kim mới bắt đầu phát triển, giao hòa với trái đất mà kết khí âm dương.

Vì tính chất như vậy nên kim giá đèn thích hỏa như Ất Tỵ, gọi là “Phong mãnh hổ cách” Thi cử học tập thuận lợi và thích thủy như Ất Dậu, Quý Tỵ cũng được coi như mệnh quý, Bạch lạp kim đó cứng rắn còn yếu nên sợ gặp mộc.

(10) Nhâm Ngọ, Quý Mùi: Dương liễu mộc

Mộc cục, vòng trường sinh Tử ở Ngọ và Mộ ở Mùi. Vì vậy mộc chỉ có thể mượn thiên can Nhâm, Quý ngũ hành thủy để cứu sống. Tuy vậy sức sống của mộc vẫn yếu ót nên gọi là gỗ cây liễu.

Cây dương liễu chỉ thích hợp với thổ là Bính Tuất và Đinh Hợi, và thích hợp với tất cả các mệnh thủy trừ Đại hải thủy.

Bản tính Dương liễu mộc là yếu đuối nên kỵ gặp hỏa, kỵ gặp thạch lựu mộc (canh Thân, Tân Dậu) sẽ bị áp chế, một đời bần hàn vất vả.

(11) Giáp Thân, Ất Dậu: Tuyền trung thủy

Kim cục, vòng trường sinh kiến lộc (Lâm quan) ở Thân, đế vượng ở Dậu. Vậy kim ở đây là cực vượng, kim dựa vào hỏa để sinh thủy, tuy vậy thủy mới được sinh thì còn yếu ớt, lại không vượng nên gọi là nước trong suối. Thủy sẽ không bao giờ ngừng khi có kim.

Vì vậy thủy ưa thích gặp Sa trung kim (Giáp Ngọ, Ất Mùi) và Thoa xuyến kim (Canh Tuất, Tân Hợi), thủy gặp mộc cũng tốt.

Nếu trong tứ trụ, trụ năm và giờ đều có thủy, trụ ngày và tháng đều có mộc thì đây là mệnh đại phú quý.

(12) Mậu Tý, Kỷ Sửu: Tích lịch hỏa

Địa chi Tý thuộc ngũ hành thủy, Sửu thuộc ngũ hành thổ, Tý thủy ở cho nên nạp âm là hỏa, tức hỏa trong thủy. Như vậy chỉ có thể là lửa sấm sét, sấm sét liền với tỉa chớp biến không cùng. Về bản chất thủy hỏa vốn chẳng bao giờ hòa hợp mà nay thủy hỏa hợp nhất, ngày xưa cho là một loài rồng thần.

Tích lịch hỏa với thổ, thủy, mộc gặp nhau, hoặc tốt hoặc là vô hại, kỵ gặp hỏa, hai hỏa gặp nhau là xấu.

(13) Bính Tuất, Đinh Hợi: ốc thượng thổ
Tuất Hợi như cánh cửa trời, Bính Đinh ngũ hành hỏa, Tuất Hợi một thổ, một thủy hòa lại thành đất dẻo, được hỏa nung lên mới thành gạch ngói làm mái nhà. Đất trên mái nhà, đương nhiên chỉ là gạch ngói, muốn lợp nhà thì cần phải có gỗ (mộc) làm xà đỡ và cần kim để trang trí. Vì vậy gặp kim mũi kiếm, kim trang sức đều là mệnh phú quý.
Nhà cửa tất sợ lửa cháy cho nên ốc thượng thổ sợ gặp hỏa, nhưng nếu gặp Thiên thượng hỏa là ánh nắng mặt trời thì lại rất tốt.
(14) Canh Dần, Tân Mão: Tùng bách mộc
Mộc cục, theo vòng trường sinh Lâm quan ở Dàn và Đế vượng ở Mão, mộc ở Dần Mão là thế thịnh vượng không phải là loại yếu đuối cho nên người xưa gọi là gỗ cây thông, cây tùng.
Cây tùng, cây thông là loại cây có sức sống và chịu đựng mãnh liệt, có thể hứng tuyết mùa đông, có thể hứng sương, che nắng mặt trời.
Trong hỏa chỉ có lửa trong lò (Bính Dần, Đinh Mão) và trong thủy chỉ có Đại hải thủy (Nhâm Tuất, Quý Hợi) mới có thể hại được tùng bách mộc. Tuy là cùng hành mộc như Đại lâm mộc, Dương liễu mộc nhưng chất không giống nhau dễ sinh lòng hiềm khích đố kỵ.
Tùng bách mộc thích gặp kim, có kim gỗ mới trở thành vật dụng hữu ích được.
(15) Nhâm Thìn, Quý Tỵ: Trường lưu thủy
Trong thủy cục, Thìn là mộ kho (Thân Tý Thìn) là nơi tích trữ nước, Tỵ ngũ hành hỏa là Trường sinh của kim cục, trong ngũ hành kim vốn sợ thủy, nhưng kim trong Tỵ có hàm chất thủy. Bởi vì nơi tích trữ thủy lại gặp kim sinh thủy nên nguồn thủy dồi dào và liên tục nên gọi là nước sông dài (Trường lưu thủy). Trường lưu thủy ở quái tốn, Đông Nam lấy yên tĩnh làm quý.
Nước sông dài gặp kim sinh thủy là tốt, kỵ gặp thủy vì thủy nhiều dễ gây lụt lội cũng kỵ gặp thổ tương khắc như ốc thượng thổ (Bính Tuất, Tân Hợi) và Bích thượng thổ (Canh Tý, Tân Sửu) thì khó tránh được tai ách.
Thủy hỏa tuy là tương khắc, nhưng cũng có trường hợp dung nạp lẫn nhau, như nước sông dài gặp lửa ngọn đèn (Giáp Thìn), lửa trên núi (Ất Hợi). Nhưng Thìn là rồng, rồng gặp thủy, có ý như là rồng về với biển, cách này lại là rất tốt.

(16) Giáp Ngọ, Ất Mùi: Sa trung kim

Vòng trường sinh của hỏa cục: Ngọ là Đế vượng, Mùi là Suy, hỏa vượng thì kim suy, hỏa yếu kim mới có thể trưởng thành. Còn hỏa bắt đầu suy, kim mới hiện hình chưa có lực, chưa kịp lớn mạnh nên gọi là kim trong cát (Sa trùng kim)

Kim cần phải có hỏa để luyện, nếu hỏa quá vượng kim sẽ bại, cần có mộc để điều phối kim, đồng thời nếu lấy lửa trên núi, lửa dưới núi, lửa ngọn đèn có tính ôn hòa để luyện lại kim. Mệnh như vậy người xưa cho rằng đó là mệnh cục của thiếu niên vương giả.

Sa trung kim cần thủy tĩnh, kỵ nước biển lớn và nước sông dài vùi mất kim, cần phối hợp với nước khe suối, nước trong suối và nước trên trời. Đồng thời kỵ gặp đất bên đường, đất trong cát dễ bị chôn vùi.

(17) Bính Thân, Đinh Dậu: Sơn hạ hỏa

Thân ở Tây Nam, thuộc quái Khôn (Mùi Khôn Thân) có thể gọi là cửa mở xuống đất. Bính Đỉnh là hỏa là mặt trời, giờ Dậu là lúc hoàng hôn, mặt trời lặn. Hàng ngày đến giờ Dậu giống như mặt trời đi xuống núi nên gọi là lửa dưới núi (Sơn hạ hỏa) giờ Dậu, lửa dưới núi gặp thổ là tốt. Là ánh sáng mặt trời vào đêm nên không thích gặp lửa sấm sét, lửa mặt trời cũng như lửa đèn.

(18) Mậu Tuất, Kỷ Hợi: Bình địa mộc

Mậu thổ được coi như đồng bằng, Hợi là Trường sinh của mộc cục, cây sinh ở đồng bằng không thể là rừng, chỉ là ruộng vườn với các giống cây nhỏ mặc dù diện tích trồng rộng lớn. Nên gọi là cây đồng bằng (Bình địa mộc)
Cây đồng bằng thích mưa không thích sương giá băng tuyết, sợ chặt phá nên kỵ gặp kim, gặp kim là bất lợi, ưa thủy, thổ và mộc.

(19) Canh Tý, Tân Sửu: Bích thượng thổ

Sửu, chính ngũ hành thổ, Tý là Đế vượng của vòng trường sinh thủy cục, thổ gặp phải thủy vượng mà biến thành bùn. Đất bùn chỉ có thể đắp tường, đắp đê, đắp đập, nên gọi là đất trên tường (Bích thượng thổ)

Đất trên tường dùng để làm nhà, phải có cột xà bằng gỗ nếu gặp mộc là tốt, kỵ gặp hỏa dễ hỏa hoạn, gặp thủy cũng tốt trừ nước biển lớn (Đại hải thủy) với kim chỉ ưa kim bạc kim.

(20) Giáp Thìn, Ất Tỵ: Phúc đăng hỏa

Thìn về thời gian là lúc mà trời đã sáng, Tỵ là giờ buổi trưa, vào giờ Thìn, Tỵ mặt trời sáng rực rỡ, không cần phải dùng đèn chiếu sáng nữa. Cho nên hỏa ở đây rất bé nhỏ, chỉ được xem như lửa ngọn đèn. Ánh sáng của đèn chỉ dùng những chỗ mà mặt trời, mặt trăng không thể chiếu sáng tói được.

Nói cách khác, lửa ngọn đèn chính là lửa chiếu sáng dùng cho ban đêm, ngày xưa ngọn đèn đi liền với gỗ và dầu. Dầu ngũ hành thủy, vậy lửa ngọn đèn gặp mộc và thủy là tốt, ban đêm chủ về âm tính nên lửa ngọn đèn kỵ mặt trời (dương).

Lửa ngọn đèn có hai loại mệnh quý: một là “che đèn thêm đâu”, chỉ lửa ngọn đèn gặp nước dưới giếng, nước dưới khe, nước sông dài. Và một nữa là “dưới đèn múa kiếm”, chỉ ngọn lửa đèn gặp kiếm phong kim.
Lửa ngọn đèn còn sợ gặp thổ là đất mái nhà (Bính Tuất, Đinh Hợi)
Lửa ngọn đèn thích hỏa nhưng trừ lửa sấm sét dễ làm tắt đèn.

(21) Nhâm Dần, Quý Mão: Kim bạc kim

Mộc cục, vòng trường sinh Lâm quan ở Dần, Đế vượng ở Mão, Dần Mão là nơi mộc vượng. Nơi mộc vượng cũng là nơi kim bị gầy yếu, nhược. Kim Tuyệt ở Dần, Thai ở mão, kim mềm yếu, không có lực tại Dần Mão nên gọi là kim loại trang sức (Kim bạc kim).

Kim bạc kim làm đồ trang sức, ngày xưa dùng nhiều trong trang trí kiến trúc đền chùa hay cung điện của Hoàng đế. Chất liệu kim và ánh sáng của nó đẹp đẽ tôn quý, nguồn gốc do kim được chế tác mà thành.

Sách xưa nói rằng, mệnh Kim bạc kim gặp đất trên thành (Mậu Dần, Kỷ Mão) gọi là “viên ngọc núi côn sơn”.
Quý Mão của Kim bạc kim gặp Kỷ Mão của đất trên thành gọi là: “Thỏ ngọc đông thăng” là mệnh quý. Ý nói Kim bạc kim là phải được sử dụng ở đền chùa, lâu đài cung điện mới là quý.

(22) Bính Ngọ, Đinh Mùi: Thiến hà thủy.

Bính Đinh, ngũ hành thuộc hỏa. Vòng trường sinh hỏa cục, Ngọ là đế vượng, thủy sinh ra từ hỏa nên có thể xem như nước ở trên trời, nước ở trên trời rơi xuống thành mưa, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của vạn vật.

Nước ở trên trời cao, cho nên kim, mộc, thủy, hỏa, thố ở dưới đất không thể khắc chế được, trừ trường hợp đất trên tường (Canh Tý, Tân Mùi) là tương xung nên kỵ gặp.

(23) Mậu Thân, Kỷ Dâu: Đai trach thổ

Thân ở hướng Tây Nam, thuộc quái Khôn đại biểu là đất. Dậu ở hướng Tây thuộc quái Đoài, đại biểu cho ao đầm, Mậu Kỷ thuộc ngũ hành thổ. Chính là đất ở trên mặt đất hay ao hồ giống như bụi bay trong không khí. Cho nên gọi nó là đất dịch chuyển, có sách cho là đất vườn lớn.

Tại Thân Dậu, âm dương bắt đầu thu lại, nguyên khí dần hồi phục giống như đất dịch chuyển quay về mặt đất. Như con người hay vạn vật trở về với bản tính tự nhiên trường tồn) trong vũ trụ.

Đại trạch thổ thích nước yên tĩnh như nước giếng, nước dưới khe, nước sông dài. Nó cũng thích kim thanh tú như kim bạc kim, thoa xuyến kim.

Đại trạch thổ kỵ gặp nước biển lớn, lửa trên núi, lửa ngọn đèn.

(24) Canh Tuất, Tân Hợi: Thoa xuyến kim

Kim cục, vòng trường sinh Suy tại Tuất, Bệnh tại Hợi, kim tại nơi vừa suy vừa bệnh nên rất yếu ớt mà gọi là kim trang sức (Thoa xuyến kim). Vậy nên kim trang sức sợ gặp hỏa, thích gặp nước giếng, nước khe, nước trong suối, nước sông dài, kỵ gặp nước biển lớn như cát nơi đáy biển. Ngoài ra còn ý thích đất trong cát vì thổ là nơi dưỡng kim.

(25) Nhâm Tý, Quý Sửu: Tang đố mộc

Ngũ hành của Tý là thủy, của Sửu là thổ, thổ sinh kim, thủy sinh mộc, làm cho mộc phát triển xanh tươi, nhưng kim khắc, ý mộc lại có thể chặt nó. Người ta ví mộc mới sinh trưởng như giống cây dây dễ bị chặt nên gọi là gốc cây dâu (Tang đố mộc).

Trong quá trình sinh trưởng, nếu gỗ cây dâu gặp đất trong cát, đất ven đường, đất dịch chuyển thì rất tốt. Nếu gặp nước sông dài, nước dưới khe, nước trong suối sẽ được tưới tắm xanh tốt. Nếu gặp Canh Dần, Tân Mão, gỗ cây tùng thì càng tốt. Vì thân cây yếu dựa vào cây khỏe mà giúp nhau tồn tại. Nếu không gặp gỗ cây liễu thì “dâu liễu thành rừng” cùng loại thân yểu. Kết lại với nhau mà an cư lập nghiệp, chỉ kỵ gặp gỗ đồng bằng sẽ bị chèn ép tàn phá.

(26) Giáp Dần, Ất Mão: Đại khê thủy

Dần Mão thuộc phương Đông, là nơi gió đông thịnh vượng. Nếu dòng chảy chính Đông với các nước Á Đông – hướng Đông. Vậy nên gọi là nước suối lớn.

Nước suối lớn đổ về sông, sông chảy ra biển nên dòng chảy là liên tục, không dứt, vì thế nước suối lớn nên gặp kim sinh thủy giúp sức. Nếu gặp thổ khắc hoặc phải tiết khí cho mộc đều không hay. Chỉ có‘thể gặp Tang đố mộc là được, người ta luận rằng Nhâm Tý là Thủy, Quý Sửu là núi, lại gặp nước, sách gọi là “nước chảy quanh núi” là mệnh quý.

(27) Bính Thìn, Đinh Tỵ: Sa trung thổ

Thổ cục, vòng trường sinh Mộ ở Thìn, Tuyệt ở Tỵ (thủy thổ đồng cục) Bính Đinh ngũ hành hỏa. Hỏa cục, Quan đới ở Thìn, Lâm quan ở Tỵ. Ở Thìn, Tỵ, thổ bị Mộ Tuyệt, hỏa thì thịnh vượng khiến cho nó có thể làm lại mới tất cả.

Người ta ví như những đốm tro khi đốt bay lên trời rồi rơi xuống thành thổ. Nên gọi là đất trong cát (sa trung thổ).
Đất trong cát gặp kim là quý, thích gặp lửa trên trời, có ánh nắng mặt trời, bãi cát dài trên sông trên biển mới đẹp rạng ngời. Thích gỗ cây dâu và cây dương liễu, vì hai loại gỗ này cần đất của nó, kỵ gặp các loại mộc, hỏa khác.

(28) Mậu Ngọ, Kỷ Mùi: Thiên thượng hỏa

Hỏa cục, Ngọ là đế vượng tức cực thịnh của hỏa, Mùi và Kỷ thổ là nơi mộc sinh trưởng, mộc sinh hỏa khiến hỏa càng mạnh hơn.

Hỏa mạnh bốc cao nên gọi là lửa trên trời, lửa trên trời chính là lửa của mặt trời nên thích gặp mộc, thủy, kim để điều hòa, sao cho thủy giúp cho mộc phát triển xanh tươị, mộc giúp hỏa bốc cháy mạnh mẽ.

Thiên thượng hỏa .chỉ thích lửa ngọn đèn ngoài ra đều tương khắc với các hỏa khác, thích gặp thổ, nếu có kim mộc nữa thì tạo thành mệnh quý.

(29) Canh Thân, Tân Dậu: Thạch lựu mộc

Hai vị Thân và Dậu ở nơi âm dương đã bắt đầu thu lại, vạn vật chuẩn bị đi vào hồi kết. Tân và Dậu đại biểu cho tháng 7 và 8 khi mà cây cối đang bắt đầu tàn lụi. Chỉ có cây thạch lựu kết trái mà gọi Canh Thân, Tân Dậu là gỗ cây lựu. Vì kết trái vào mùa thu nên cây lựu, tính mộc cứng rắn, gặp thủy, mộc, thổ, kim qua lại có thể hòa hợp tốt, kỵ nước biển lớn, thủy ào ạt làm nó bần cùng và tai ách.

Gỗ thạch lựu thường bao hàm mệnh quý như sinh tháng 5 (Ngọ) mà trụ ngày hoặc trụ giờ lại có mang một hỏa gọi là “thạch lựu phun lửa” gặp dương liễu mộc gọi là “hoa hồng liễu xanh”.

(30) Nhâm Tuất, Quỷ Hợi: Đại hải thủy

Thủy cục, Quan đới tại Tuất, Lâm quan tại Hợi, do đó tại Tuất Hợi là nơi thủy đang thịnh vượng, ngũ hành của Hợi thuộc thủy, hình tượng như cửa sông đổ ra biển, nên gọi là nước biển lớn.

Nước biển lớn chính là đại dương mênh mông, nơí qui tụ của tất cả các dòng sông, vì thế các loại nước trên trời, nước sông dài, nước suối lớn… gặp nước biển đều rất tốt.

Nhâm Thìn trong nước sông dài gặp nước biển lớn gọi là “rồng quay về biển” mệnh này phú quý không gì bằng.
Gặp hỏa, nó thích lửa trên trời vì mặt trời mọc ở biển Đông, gặp kim nó thích kim đáy biển, gặp mộc nó thích gỗ cây dâu, gỗ dương liễu, gặp thổ nó thích đất dịch chuyển và đất bên đường. Ngoài ra tất cả đều không chịu nổi nước biển lớn. Nếu gặp lửa sấm sét sẽ tạo nên nước hung hãn, phong ba bão táp, một đời lao khổ.

Nhìn vào 60 hoa giáp từ Giáp Tí đến Quí Hợi, 2 chữ Can Chi đứng chung với nhau không khác gì một tiểu gia đình. Can đứng trên làm gốc (chồng) , chi tiếp theo là phụ (vợ) . Biết rằng mỗi Can hay Chi đều có một tính chất riêng biệt là ngũ hành. Gia đình nào phu thê đầm ấm , sự nghiệp dầu lớn hay nhỏ hẳn là bước đường đời phải cứ sự tươi đẹp tương đối hơn ai, trái ngược vợ chồng xung khắc. ngày tháng trôi nổi trống đánh xuôi , kèn thổi ngược, tưởng sự bất hạnh phải lâu nhiều hơn người.

Năm tuổi căn cứ vào Can và Chi, từ Giáp đến Quí ( Can) vào với Tí đến Hợi (Chi) hẳn có sự luân phiên thay đổi, nhưng thay đổi tốt hay xấu phải phân tích cho ra nguyên lý và cũng là nguyên “ý“ của Phục Hy âm thầm chỉ dẫn kín đáo.

Hai chữ Can và Chi đứng với nhau không khác gì tình cảnh của một gia đình có hoà hợp mới nên sự nghiệp, còn xung khắc nhau làm sao có hưng vượng.

Như 2 tuổi Canh Thân và Canh Dần cùng là Mộc mệnh, thật ra cảnh đề huề của mỗi tuổi một khác. Canh là Kim, Thân là Kim, cũng như cây có gốc (Can) ngọn (Chi) đều nhau hẳn là có 1 căn bản vững chắc, dẫu không hơn người cũng không hề kém ai. Còn Canh Dần thì Can Canh (Kim)  khắc Chi Dần (Mộc). Cây mà gốc không tải bồi cho ngọn làm sao mà sinh nở tốt đẹp cho nổi, khác gì gia đình trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Hai tuổi Giáp Tí và Giáp Ngọ thấy cả 2 tuổi cùng tương sinh gốc ngọn, nhưng Giáp Ngọ khác biệt bỏ xa Giáp Tí  rất nhiều. Giáp Ngọ có Can Giáp (Mộc) sinh cho Chi Ngọ (Hoả) nghĩa là gốc nuôi ngọn là thuận cảnh. Trái lại Giáp Tí thì Can Giáp (Mộc ) được Chi Tí (Thuỷ) sinh lại tức là ngọn nuôi gốc tuy cũng là cảnh tượng sinh nhưng ngược chiều cho biết ngay Giáp Tí không có khả năng vững chắc mà sự đề huề chỉ là may mà có. Huống chi Giáp Ngọ còn tiềm tàng căn bản phồn thịnh là tam hợp Lộc Tồn của tuổi Giáp (Lộc tồn ở Dần) Thiên Lộc dành riêng cho người Dần Ngọ Tuất. Còn Giáp Tí đứng ngõ ngoài, muốn hưởng Lộc Tồn phải là Canh Tí (Canh Kim sinh Tí Thuỷ và Thân Tí Thìn là tam hợp hưởng Lộc Tồn tuổi Canh  ở Thân).

Hai tuổi Giáp Thìn và Giáp Tuất là 2 tuổi đều hàng Can Giáp (Mộc) khắc Chi Thìn Tuất (Thổ). Hai tuổi này cũng cách biệt nhau cả một dặm đường: Giáp Tuất tuy Can khắc Chi, cuộc đời thấy nhiều trở lực, nhưng còn được dự phần tham dự chia sẻ Thiên Lộc tuổi Giáp. Giáp Thìn kể như là khách đi đường không liên quan gì đến, lại còn bị cảnh nghèo túng là Lộc Tồn thường trực có Tuần đóng kín, chỉ còn trông cậy vào bộ sao Sát Phá Tham nếu được thủ mệnh sống theo Hoá Lộc, tay làm hàm nhai. Trường hợp tuổi Giáp Thìn, mệnh đóng ở vị trí tam hợp Hợi Mão Mùi dầu được bộ Sát Phá Tham là nòng cốt cũng chỉ là kiếp nhân sinh được tạo hoá nặn ra để trả nợ đời, không mong gì sự nâng đỡ vì vị trí của Sát Phá Tham  ở Hợi Mão Mùi, trường hợp nào cũng là đen tối, cố công xây đắp mấy cũng chỉ là hữu công vô lao (vị trí Thiếu âm Long đức Trực phù của tuổi Giáp Thìn).

Tóm lại tuổi của mỗi cá nhân có thể sắp xếp theo thứ tự tốt xấu có 5 bậc thang như sau:

1/ CAN sinh CHI: Phúc đức quá lớn tiềm tàng một căn bản hơn người

2/ CAN CHI đều nhau : có năng lực khá đầy đủ vững chắc

3/ CHI sinh CAN: đời gặp may nhiều hơn thực lực

4/ CAN khắc CHI: đời gặp nhiều trở lực

5/ CHI khắc CAN: nghịch cảnh đầy rẫy chua cay

Theo luật ngũ hành cái gì tương sinh là tốt, tương khắc là xấu. Vậy có thể hoạch phát một nguyên tắc như:

a/ Tốt nhất:  Can sinh Chi (ví dụ tuổi Giáp Ngọ. Can Giáp ( Mộc) sinh Chi Ngọ (Hoả).

b/ Tốt thứ nhì: Can và Chi đồng hành ( Ví dụ tuổi Giáp Dần. cả 2 đều là Mộc).

c/ Tốt thứ ba: Chi sinh Can (ví dụ tuổi Giáp Tí . Chi Tí (Thuỷ) sinh Can Giáp (Mộc).

d/ Xấu tương đối: Can khắc Chi ( ví dụ tuổi Giáp Thìn. Can Giáp Mộc khắc Chi Thìn (Thổ) .

đ/ Nghịch cảnh: Chi khắc Can (ví dụ tuổi Giáp Thân: Chi Thân (Kim) khắc Can Giáp (Mộc)

Năm trường hợp này chỉ là một tấm thu hình rất nhỏ của kiếp nhân sinh . Sự hên xui đã ấn định như thế đó, còn tuỳ định mệnh phác hoạ hạnh phúc (vòng lộc tốn) tuỳ vị trí an Mệnh Thân (vòng Thái Tuế bổ khuyết tư thế) , nhất là Thân ( chính đương số với vòng tràng sinh) đã khuôn xử làm được những gì để mua chuộc.

Như tuổi Ất Mùi , Mệnh ở Mùi (Thái Tuế) , Thân ở di (Tuế Phá) biết chữ ất (Mộc) khắc chữ Mùi (Thổ) là đời tất nhiên gặp nhiều bước khó khăn. Nhưng Hợi Mão Mùi là 3 tuổi được hưởng hạnh phúc (Lộc tồn của tuổi Ất) Thân ở Di (nghịch cảnh) là cung Sửu cô lập được chữ THỌ cho phụ mẫu , thì định mệnh mới ngăn cản được phần nào, nhiều hay ít là do chữ Tài được mệnh điều động đến ách cung .

Tóm lại vận hạn của từng cá nhân, nguyên lý là do thời tiết. Đã có cái nóng phải có cái lạnh, đã có xanh tươi phải có vàng héo từng năm xuống đến tháng ngày giờ sinh thì đắc cách , khắc thì tai ương, phần chánh yếu là ở cái gốc (hàng can).Gốc được tưới bón hợp thời, cây được xanh tốt, gốc mà bị chặt cắt, dầu cây đương có nhiều hoa nụ tươi thắm, cũng phải úa vàng héo gục.

>>Bảng đối chiếu Lục thập hoa giáp ngũ hành và cách tính tuổi xung khắc

Số

Ngày tháng năm

Ngũ hành

Tuổi xung khắc

1

Giáp tý

Vàng trong biển (Kim)

mậu ngọ, nhâm ngọ, canh dần, canh thân

2

ất sửu

 

Kỷ mùi, quí mùi, tân mão, tân dậu

3

Bính dần

Lửa trong lò (Hoả)

Giáp thân, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn

4

Đinh mão

 

ất dậu, quí dậu, quí tị, quí hợi

5

Mậu thìn

Gỗ trong rừng (Mộc)

Canh tuất, bính tuất

6

Kỷ tị

 

Tân hợi, đinh hợi

7

Canh ngọ

Đất ven đường (Thổ)

Nhâm tý, bính tý, giáp thân, giáp dần

8

Tân mùi

 

Quí sửu, đinh sửu, ất dậu, ất mão

9

Nhâm thân

Sắt đầu kiếm (Kim)

Bính dần, canh dần, bính thân

10

Quí dậu

 

Đinh mão, tân mão, đinh dậu

11

Giáp tuất

Lửa trên đỉnh núi (hoả)

Nhâm thìn, canh thìn, canh tuất

12

ất hợi

 

Quí tị, tân tị, tân hợi

13

Bính tý

Nước dưới lạch (Thuỷ)

Canh ngo, mậu ngọ

14

Đinh Sửu

 

Tân mùi, kỷ mùi

15

Mậu dần

Đất đầu thành (Thổ)

Canh thân, giáp thân

16

Kỷ mão

 

Tân dậu, ất dậu

17

Canh thìn

Kim bạch lạp (Kim)

Giáp tuất, mậu tuất, giáp thìn

18

Tân tị

 

ất hợi, kỷ hợi, ất tị

19

Nhâm ngọ

Gỗ dương liễu (Mộc)

Giáp tý, canh ty, bính tuất, bính thìn

20

Quí mùi

 

ất sửu, tân sửu, đinh hợi, đinh tị

21

Giáp thân

Nước trong khe (Thuỷ)

Mậu dần, bính dần, canh ngọ, canh tý

22

ất dậu

 

Kỷ mão, đinh mão, tân mùi, tân sửu

23

Bính tuất

Đất trên mái nhà (Thổ)

Mậu thìn, nhâm thìn, nhâm ngọ, nhâm tý

24

Đinh hợi

 

Kỷ tị, quí tị, quí mùi, quí sửu

25

Mậu tý

Lửa trong chớp (Hoả )

Bính ngọ, giáp ngọ

26

Kỷ sửu

 

Đinh mùi, ất mui

27

Canh dần

Gỗ tùng Bách (Mộc)

Nhâm thân, mậu thân, giáp tý, giáp ngọ

28

Tân mão

 

Quí dậu, kỷ dậu, ất sửu, ất mùi

29

Nhâm thìn

Nước giữa dòng (Thuỷ)

Bính tuất, giáp tuât, bính dần

30

Quí tị

 

Đinh hợi, ất hợi, đinh mão

31

Giáp ngọ

Vàng trong cát (Kim)

Mậu tý, nhâm tý, canh dần, nhâm dần

32

ất mùi

 

Kỷ sửu, quí sửu, tân mão, tân dậu

33

Bính thân

Lửa chân núi (Hoả)

Giáp dần, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm thìn

34

Đinh dậu

 

ất mão, quí mão, quí tị, quí hợi

35

Mậu tuất

Gỗ đồng bằng (Mộc)

Canh thìn, bính thìn

36

Kỷ hợi

 

Tân tị, đinh tị.

37

Canh tý

Đất trên vách (Thổ)

Nhâm ngọ, bính ngọ, giáp thân, giáp dần

38

Tân sửu

 

Quí mùi, đinh mùi, ất dậu, ất mão

39

Nhâm dần

Bạch kim (Kim)

Canh thân, bính thân, bính dần

40

Quí mão

 

Tân dậu, đinh dậu, đinh mão

41

Giáp thìn

Lửa đèn (Hoả)

Nhâm tuất, canh tuất, canh thìn

42

ất tị

 

Quí hợi, tân hợi, tân tị

43

Bính ngọ

Nước trên trời (thuỷ)

Mậu tý, canh tý

44

Đinh Mùi

 

Kỷ sửu, tân sửu

45

Mậu thân

Đất vườn rộng (Thổ)

Canh dần, giáp dần

46

Kỷ dậu

 

Tân mão, ất mão

47

Canh Tuất

Vàng trang sức (Kim)

Giáp thìn, mậu thìn, giáp tuất

48

Tân hợi

 

ất tị, kỷ tị, ất hợi

49

Nhâm tý

Gỗ dâu (Mộc)

Giáp ngọ, canh ngọ, bính tuất, bính thìn

50

Quí sửu

 

ất mùi, tân mùi, đinh hợi, đinh tỵ

51

Giáp dần

Nước giữa khe lớn (Thuỷ)

Mậu thân, bính thân, canh ngọ, canh tý

52

ất mão

 

Kỷ dậu, đinh dậu, tân mùi, tân sửu

53

Bính thìn

Đất trong cát (Thổ)

Mậu tuất, nhâm tuất, nhâm ngọ, nhâm tý

54

Đinh tị

 

Kỷ hợi, quí hợi, quí sửu, quí mùi

55

Mậu ngọ

Lửa trên trời (Hoả)

Bính tý, giáp tý

56

Kỷ mùi

 

Đinh sửu, ất sửu

57

Canh Thân

Gỗ thạch Lựu (Mộc)

Nhâm dần, mậu dần, giáp tý, giáp ngọ

58

Tân dậu

 

Quí mão, kỷ mão, ất sửu, ất mùi

59

Nhâm tuất

Nước giữa biển (Thuỷ)

Bính thìn, giáp thìn, bính thân, bính dần

60

Quý hợi

 

Đinh tị, ất tị, đinh mão, đinh dậu