Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Đọc thêm về Âm Đức và Dương Đức

 TU TÂM TÍCH ĐỨC…!!! 


- Người xưa nói Tích Đức, Tích Âm Đức. Từ nhỏ chúng ta vẫn thường nghe ông bà căn dặn: "Phải tích Âm Đức, không cho mình thì cũng là cho con cháu". Nhưng thế nào gọi là Âm Đức và Dương Đức? 

>Làm việc tốt muốn người khác biết gọi là "Dương Đức". Dương Đức phúc báo nhanh, người ta sẽ ca ngợi bạn, tuyên dương bạn, báo đáp bạn bằng vật chất hoặc khen thưởng biểu dương. Dương Đức đã được báo đáp rồi thì sẽ hết. 

 >Làm việc tốt mà không cần người khác biết gọi là “Âm Đức”. Âm Đức dù không được ai biết đến, không được ai biểu dương, nhưng phúc báo lớn, tích được lâu dài. Đừng sợ làm việc tốt thì sẽ phải chịu thiệt. Hành thiện sẽ tích Phước, sống Lương Thiện sẽ tích Đức, Phước Đức ấy vĩnh viễn là của bạn, người khác không thể trộm được, không thể cướp được.

> Tự mình tu Phước Đức thì tự mình được Phúc Báo, vì Phước Đức là một loại năng lượng. Tuy Phước Đức nhìn không thấy, sờ không được, nhưng không lúc nào và không nơi nào là không tồn tại.  "Dương Đức" không lâu dài, đa số là tùy theo việc làm tốt mà nhận được Phúc Báo ngay trong đời. 1 phần là do Tâm mong cầu được hồi đáp, 1 phần là do có mục đích mới Hành Thiện. Là vì Danh vì Lợi mới làm... Nên sự Hồi Đáp cũng có Giới Hạn.  "Âm Đức" tích được lâu, hơn nữa càng tích càng lớn, càng tích càng dày, còn có thể để lại phúc trạch cho cháu con. Do đó làm việc Thiện thì nên xuất phát tự đáy lòng, là thật tâm thật lòng vì người khác, vì lòng thương yêu mà làm... Không nên truy cầu Danh Lợi hoặc vì Danh Tiếng...  Người xưa rất coi trọng Âm Đức, cho rằng Âm Đức mới là trân quý, còn Dương Đức chỉ là một chút Hư Danh, không có giá trị thực tế đối với sinh mệnh. "Sống trong đời sống cần có một Tấm Lòng", và Tấm Lòng chỉ "để gió cuốn đi" ... Đó chính là Âm Đức☘

Việc tích âm công là việc rất nhiều người nguyện ý làm. Hành thiện tích đức, lợi người lợi mình, đó là việc tốt. Nhưng người hiện đại đã thoát ly khỏi tín ngưỡng truyền thống đã quá lâu rồi, nên những tông chỉ của người xưa trở nên khó lý giải. Ví dụ người xưa coi trọng thờ kính Tam Bảo ‘Phật Pháp tăng’, thì được phúc báo. Tại sao Tăng lại được coi là một trong Tam Bảo? Bởi vì tăng nhân tu hành Phật Pháp mới trở thành Bảo. Nhưng ngày nay, nhiều tăng nhân đâu còn tu hành Phật Pháp, họ chỉ đọc ‘Kinh Phật’ rồi đi làm lễ ‘ma chay, giỗ chạp’ rồi ‘cầu an’, ‘tiêu tai giải hạn’ cho các tín đồ để kiếm tiền. Những chuyện như quan hệ nam nữ bất chính, thậm chí phạm tội lớn hơn như hút hít buôn bán ma túy còn có, những người được gọi là tăng nhân, là hòa thượng, là sư này từ lâu đã không còn coi lời dạy của Phật Thích Ca để lại trước khi Niết Bàn “Lấy giới luật làm Thầy” là gì nữa, căn bản đã quên hết hoàn toàn.

Những hành vi của họ trái ngược hoàn toàn với Bảo. Nếu cúng dường, hiến tặng tiền bạc tài sản, thờ kính những người như thế này thì không những không đắc được âm công, trái lại còn tạo nghiệp, mất phúc phận. Do tín ngưỡng méo mó, có người còn coi đó là một nghề, còn tìm cách ‘chạy’ để làm sư chùa này, chùa kia, miệng niệm Phật mà làm mê hoặc thế nhân, quả thực là lừa đảo kiếm tiền.

Còn có những thanh niên mạnh khỏe không lo làm ăn, đóng giả làm người tàn tật, bò lết trên đường phố để khơi dậy lòng thương xót của mọi người. Đã nhiều vụ phát hiện ra những kẻ ăn xin chuyên nghiệp này xây nhà lớn ở quê, ăn xin cũng đã thành một nghề chuyên nghiệp ‘phát tài’. Bố thí những kẻ như thế không những không tích được âm đức mà còn tạo nghiệp.

Cũng nhiều người có thiện tâm, họ tích âm công bằng biện pháp phóng sinh, mua rất nhiều động vật như chim rùa, cá tôm rồi thả ra môi trường. Việc này có thể nuôi dưỡng thiện tâm, nhưng quá ‘hữu cầu’ vào ‘phóng sinh’ thì lại gây tác dụng ngược. Do nhu cầu phóng sinh quá lớn, nhất là dịp đầu năm, rằm tháng Bảy, số lượng người phóng sinh quá lớn.

Có những tăng nhân còn đứng ra tổ chức ‘lễ phóng sinh’. Các phật tử, tín đồ quyên tiền để họ ‘mua giúp đồ phóng sinh’, nhiều chim thú, có khi lên đến hàng chục tấn cá thả ra môi trường. Việc này đã khiến nguồn cung thiếu, nên nhiều người đua nhau đi bắt chim thú, hoặc nuôi giống chim thú cá tôm để bán cho người phóng sinh. Vô hình trung đã kích thích người ta lạm sát bắt chim thú hoang. Còn cá tôm sống trong các môi trường khác nhau, mua về thả mà không rõ môi trường sống có thích hợp không, có thể sẽ chết do không hợp môi trường, hoặc bị vật khác hoặc người ta bắt ngay sau khi phóng sinh. Như thế chẳng những không phóng sinh được mà lại đem nghiệp sát sinh. Chưa tính số tiền quyên góp cho việc này chi tiêu thế nào, người đứng ra tổ chức có khai khống không, thì đó cũng là việc tạo nghiệp cho người phóng sinh.

Trong xã hội mà nhiều giá trị tín ngưỡng bị sai lệch, nhân sinh quan méo mó như hiện nay thì tích âm đức quả là việc không hề dễ dàng.

>>> Để khôi phục các con đường thay đổi vận mệnh thì việc đầu tiên là khiến cho đạo đức thăng hoa trở lại, quay lại các giá trị truyền thống xưa.

Khổng Tử nói: “Quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh Trời, sợ đại nhân, sợ lời của Thánh nhân”. Ý nghĩa là, con người phải biết kính sợ Thượng Thiên, thuận theo Thiên mệnh, biết kính sợ người có phẩm hạnh cao, địa vị cao, biết kính sợ lời dạy của Thánh nhân.

Khi con người trong tâm có lòng kính sợ thì mới ước chế hành vi của mình, mới kiềm chế ham muốn, tham dục của mình, thì mới có đời sống đạo đức tốt đẹp và duy trì mối quan hệ hài hòa với mọi người, với thiên nhiên. Chỉ có như vậy thì đạo đức xã hội mới nâng cao trở lại, các cơ chế quyền lực, quản lý xã hội mới vận hành lành mạnh, thiên nhiên mới được khôi phục trở lại, con người mới có cuộc sống yên ổn, hạnh phúc đúng nghĩa ‘Thiên thời, địa lợi và nhân hòa’.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Đọc thêm về ý nghĩa 24 sơn hướng trong phong thủy

 


Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nên không có phương hướng. Đem áp đặt Hậu thiên Bát quái lên la bàn gồm 360 độ, thì mỗi hướng (hay mỗi số) sẽ chiếm 45 độ trên la bàn.


Vào thời kỳ phôi phai của học thuật Phong thủy (thời nhà Chu), việc phân chia la bàn thành 8 hướng như vậy đã được kể là quá tinh vi và chính xác. Nhưng sau này, khi bộ môn Phong thủy đã có những bước tiến vượt bậc dưới thời Đường – Tống, khoảng cách 45 độ được xem là quá lớn và sai lệch qúa nhiều. Để cho chính xác hơn, người ta lại chia mỗi hướng ra thành 3 sơn đều nhau, mỗi sơn chiếm 15 độ. Như vậy trên la bàn lúc này đã xuất hiện 24 sơn. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn – Khôn – Cấn – Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

- Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ
- Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN
- Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT
- Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ
- Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH
- Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN
- Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN
- Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI

Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.

Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mỗi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mỗi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

Phương PHÚC ĐỨC đại cát 

Nguyên văn: 

PHÚC ĐỨC an môn đại cát linh
Niên niên tiến bảo đắc điền trang
Chủ tiến khoa giáp lợi danh dương
Hựu sinh quý tử bất tầm thường

Dịch nghĩa:

Cổng phương phúc đức đại cát linh,
Liền năm được của, được điền trang 
Rộng đường khoa cử có danh lợi.
Lại sinh quý tử chẳng tầm thường.
(Trổ cổng tại phương PHÚC ĐỨC là đại cát lợi, chủ về gia súc đầy đàn, tằm dâu vượng phát, người nhà học hành đỗ đạt, rộng đường công danh, (Có sách nói : trong vòng 3 năm sẽ có thêm người, sinh quý tử, thăng quan tiến chức, phát tài).

Phương ÔN HOÀNG không tốt

Nguyên văn:

ÔN HOÀNG chi vị mạc khai môn,
Tam niên ngũ tải nhiễm thời ôn,
Cánh hữu ngoại nhân lai tự ải,
Nữ nhân sinh sản mệnh nan tồn.

Dịch nghĩa:

Phương vị ÔN HOÀNG đừng mở cổng.
Liền năm bệnh dịch chẳng được yên,
Lại có người ngoài đến treo cổ,
Đàn bà sinh nở mệnh nguy nan.

(Nếu trổ cổng tại hướng ÔN HOÀNG, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, người lớn, kẻ bé trong nhà gặp tai nạn, phụ nữ khó sinh đẻ, vướng mắc hình khắc thị phi, có người ngoài gây kiện tụng rắc rối, gia chủ thường sinh con một bề mới yên).

Phương TẤN TÀI (còn gọi là TIẾN TÀI) mọi việc thuận lợi 

Nguyên văn: 

TẤN TÀI chi vị thị tài tinh,
Tại thử an môn bách sự nghi,
Lục súc điền tàm, nhân khẩu vượng,
Gia quan tiến tước hữu thanh danh.

Dịch nghĩa:

TẤN TÀI là chủ về tiền của,
Cổng đặt phương này muôn việc lành,
Gia súc tằm dâu, nhân khẩu vượng,
Thăng quan tiến chức có thanh danh.

(Trổ cổng tại phương TẤN TÀI chủ về rước tài lộc, thêm nhân đinh, thu hút được ruộng vườn,  thăng quan tiến lộc, gia súc đầy đàn, ruộng vườn rỗng rãi, là điềm người khác mang của đến cho.)

Phương TRƯỜNG BỆNH hung hại

Nguyên văn:

TRƯỜNG BỆNH chi vị tật bệnh trọng.
Thử vị an môn lập kiến hung
Gia trưởng hộ đinh mục tật hoạn
Thiếu niên bạo tốt ngục lao trung.

Dịch nghĩa:

TRƯỜNG BỆNH là phương nhiều tật bệnh,
Làm cổng phương này liền gặp hung
Gia chủ, nhân đinh thường đau mắt,
Thanh niên giam hãm chốn lao lung.

(Đặt cổng phương TRƯỜNG BỆNH, chủ nhà bất nhân, mắt mờ, tim đau, con cháu trẻ tuổi chết đột tử, thường vướng mắc chuyện thị phi kiện tụng đến phá sản, trộm cướp cấu kết trong nhà ngoài ngõ cướp bóc… Gia đình không được yên ổn).

Phương TỐ TỤNG gặp tai ương

Nguyên văn:

TỐ TỤNG chi phương đại bất tường.
An môn chiêu họa nhạ tai ương,
Điền viên tài vật âm nhân tổn,
Thời tao khẩu thiệt não nhân trường.

Dịch nghĩa:

TỐ TỤNG ấy là phương cực hung,
Đặt cổng rước họa gặp tai ương,
Mất đất, tán tài, hại người nữ,
Kiện tụng, thị phi thực đáng buồn.

(Trổ cổng phương TỐ TỤNG sẽ xảy ra tranh chấp tài sản, tai ương, họa hại. Gia súc và tài sản đều bất hợi, bị tiểu nhân ám hại, cuộc sống không được yên ổn.) 

Phương QUAN TƯỚC phát tài

Nguyên văn:

An môn QUAN TƯỚC tối cao cường,
Sĩ nhân cao trạch nhập đế hương,
Thứ sĩ đương niên tài đại vượng
Thiên ban cát khánh tổn vinh xương.

Dịch nghĩa:

Trổ cổng nên tìm phương QUAN TƯỚC,
Làm quan thăng chức chốn cung đình,
Người thười vượng phát về tiền của,
Phúc lành nghìn mối được quang vinh.

(Trổ cổng phương QUAN TƯỚC, chủ về thăng quan tiến chức, thêm nhân đinh, phát đạt lương thiện. Người thường thì ruộng vườn, gia súc sinh sôi, của cải nhân đinh vượng phát.)

Phương QUAN QUÝ hoạn nộ hanh thông

Nguyên văn:

QUAN QUÝ vị thượng hảo an môn,
Định chủ danh oanh vị tước tôn,
Điền địa ti tài nhân khẩu vượng,
Kim ngân tài vật bất tu luân.

Dịch nghĩa:

Tại phương QUAN QUÝ nên đặt cổng.
Danh vọng hơn người, chức tước cao,
Ruộng đất tiền của, nhân đinh vượng,
Bạc vàng châu báu thật dồi dào.

(Trổ cổng phương QUAN QUÝ sẽ sinh quý tử, đường công danh rộng mở, thu hút ruộng vườn nhà cửa, khế ước, gia súc, được của bất ngờ, phát tài, giàu phúc đức.)

Phương TỰ ĐIẾU (còn gọi là TỰ ẢI) gặp tai ương

Nguyên văn:

TỰ ĐIẾU vi thượng bất tương đương.
Ân môn lập kiến hữu tai ương,
Đao binh ôn hỏa tao hoành sự,
Ly hương tự ải nữ nhân thương.

Dịch nghĩa:

Tại phương TỰ ĐIẾU đừng trổ cổng,
Trổ cổng lập tức gặp tai ương,
Binh đao dịch bệnh, nhiều tai họa,
Rời quê thắt cổ, nữ tổn thương.

(Trổ cổng tại phương TỰ ĐIẾU sẽ gặp treo cổ tự tử, chết đuối, Tổn hại nhân đinh, kiện tụng phá sản. Nam phải xa quê, nữ khó sinh đẻ. Gia súc, tài sản … đều bất lợi).

Phương VƯỢNG TRANG nhiều tiền của

Nguyên văn:

Vượng trang an môn tối cát lợi,
Tiến tài tiến bảo cập điền trang, 
Bắc phương âm nhân tiến thư khế,
Đại hoạch tàm thư lợi thắng thường.

Dịch nghĩa:

Trổ cổng VƯỢNG TRANG rất cát lợi,
Vượng phát tiền của với ruộng vườn,
Đàn bà phương Bắc dâng văn khế,
Tằm dâu phồn thịnh lợi khác thường.

(Trổ cửa phương VƯỢNG TRANG sẽ mở rộng được ruộng vườn bờ cõi từ xung quanh, thu nạp ruộng đất, văn khế, gia súc, của cải … tại phương Bắc, thêm nhân đinh – thêm người).

Phương HƯNG PHƯỚC được trường thọ

Nguyên văn:

HƯNG PHƯỚC an môn thọ mệnh trường.
Nên niên tứ quý thiểu tai ương.
Sĩ nhân tiến chức gia quan tước,
Thứ nhân phát phúc tiến điền trang.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi HƯNG PHƯỚC được trường thọ,
Quanh năm liền tháng ít tai ương.
Kẻ sĩ thăng quan thêm chức lớn,
Người thường phát phúc thêm ruộng vườn.

(Trổ cổng phương HƯNG PHƯỚC sẽ được phúc thọ, người nhà bình yên, người nam, người nữ đều trong sạch. Kẻ sĩ đường công danh rộng mở. Người thường cũng có phúc , gia súc sinh sôi, con cái ngoan hiền hiếu thảo).

 

Phương PHÁP TRƯỜNG chịu tội hình

Nguyên văn:

PHÁP TRƯỜNG vị thượng đại hung ương,
Nhược an thử vị thụ hình thương,
Quan tai lao ngục bị gia tỏa,
Lưu đồ phát phối xuất tha hương.

Dịch nghĩa:

Phương vị PHÁP TRƯỜNG gây họa xấu,
Đặt cổng phương này chịu hình thương.
Kiện tụng, cầm tù, cảnh xiềng xích.
Đi đày biệt xứ tại tha hương.

(Trổ cổng hướng PHÁP TRƯỜNG chủ về kiện tụng, phạm pháp, hãm về công danh cho gia chủ).

Phương ĐIÊN CUỒNG chủ li biệt

Nguyên văn:

ĐIÊN CUỒNG chi vị bất khả khoa.
Sinh li tử biệt cập điên tà,
Điền địa thoái tiêu, nhân khẩu bại.
Thủy hỏa ôn hoàng tuyệt diệt gia.

Dịch nghĩa:

Phương vị ĐIÊN CUỒNG không nên phạm.
Sinh li tử biệt với điên khùng…
Ruộng đất tiêu ma, người lụn bại,
Nước, lửa, dịch bệnh, nhà diệt vong.

(Trổ cổng phương ĐIÊN CUỒNG chủ về các chứng điên tà, dâm loạn, phụ nữ khó đẻ, đàn ông rượu chè háo sắc, thanh niên chết đột tử, cha con chia lìa, không được sống yên ổn, của cải hao tán).

Phương KHẨU THIỆT gặp tai ương

Nguyên văn:

KHẨU THIỆT an môn đại bất tường,
Thường chiêu vô cô bị tai ương,
Phu phụ tương tiên nhật trục hữu.
Vô đoan huynh đệ đấu tranh cường.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi KHẨU THIỆT không cát tường,
Thường hay oan uổng chịu tai ương,
Chồng vợ suốt ngày sinh xô xát.
Anh em vô cớ lại tranh giành.

(Trổ cổng phương KHẨU THIỆT thường xuyên vướng mắc điều tiếng thị phi, kiện tụng. Con cái ngỗ nghịch bất hiếu, mọi sự đều bất lợi cho gia chủ)

Phương VƯỢNG TÀM gia đạo hưng thịnh

Nguyên văn:

VƯỢNG TÀM vị thượng hảo tu phương.
Thử vị an lai gia đạo xương,
Lục súc ti tàm gia đại vượng,
Tọa thâu mễ cốc mãn thương tương.

Dịch nghĩa:

VƯỢNG TÀM là hướng tu phương tốt,
Đặt cổng phương này nhà ấm no,
Gia súc tằm tơ đều vượng phát,
Ngồi thu thóc lúa chất đầy kho.

(Trổ cổng phương VƯỢNG TÀM là rất có lợi cho điền sản, của cải dồi dào, thêm người thêm của, cần kiệm, hiếu thiện).

Phương TIẾN ĐIỀN con cháu hiền tài

Nguyên văn:

TIẾN ĐIỀN vị thượng phúc miên miên,
Thường chiêu tài bảo tử tôn hiền,
Cánh chủ ngoại nhân lai kỷ vật,
Kim ngân tài bảo phú điền viên.

Dịch nghĩa:

Được phương TIẾN ĐIỀN là có phúc,
Tiền tài sung túc, con cháu ngoan,
Lại được người ngoài đến gửi của,
Bạc vàng tích lũy, nhiều ruộng vườn.

(Trổ cổng hướng TIẾN ĐIỀN chủ thu hút về điền sản, văn khế của người khác. Ăn ở hiền đức, hay làm điều thiện, được người gửi gấm của cải, gia súc sinh sôi).

Phương KHỐC KHẤP gia tài lụn bại

Nguyên văn:

KHỐC KHẤP chi môn bất khả khai,
Niên niên tai họa đáo gia lai,
Uổng tử thiếu vong nam cộng nữ.
Bi khấp lưu lệ nhật doanh tai

Dịch nghĩa:

Cổng phương KHỐC KHẤP không nên mở.
Liền năm tai họa ập đến nhà,
Nam nữ chết oan hoặc yểu mệnh.
Buồn thương khóc lóc lệ chan hòa.

(Trổ cổng phương KHỐC KHẤP trong nhà thường xuyên có chuyện buồn, bất lợi cho cả gia súc).

Phương CÔ QUẢ gia súc tổn hại, người ly tán

Nguyên văn:

CÔ QUẢ chi phương tai đại hung,
Tu chi quả phụ tọa đường trung
Lục súc điền tàm câu tổn bại,
Cánh kiêm nhân tán tẩu tây đông.

Dịch nghĩa:

CÔ QUẢ phương này rất tai hại,
Trổ cổng đau thương, vợ mất chồng.
Gia súc, ruộng tằm đều thất bại,
Người nhà ly tán bỏ quê hương.

(Trổ cổng phương CÔ QUẢ không có lợi về nhân đinh và gia súc).

Phương VINH PHÚC (Còn gọi là VINH PHÚ) sung túc ấm no

Nguyên văn:

VINH PHÚC vị thượng tối kham tu.
An môn đoán đích vượng nhân trù,
Phát tích gia đình vô tai họa,
Phú quý vinh hoa sự nghiệp thu.

Dịch nghĩa:

VINH PHÚC phương này nên xây dựng.
Đặt cổng người nhà ắt vinh quang,
Gia đình vượng phát không tai họa,
Phú quý vinh hoa sự nghiệp thành.

(Trổ cổng phương VINH PHÚC sẽ được vinh hoa phú quý, ruộng vườn tằm tơ bội thu, tiền bạc dồi dào, gia súc sinh sôi, gia đạo an lành, làm ăn phát đạt).

Phương THIẾU VONG gặp tai ương

Nguyên văn:

THIẾU VONG chi vị bất khả khoa.
Nhất niên chi nội khốc thanh hoa.
Hiếu tửu âm nhân tự ải tử.
Lôi thiên thương tử tử thiên nha.

Dịch nghĩa:

Phương vị THIẾU VONG đừng nên phạm,
Trong năm sẽ gặp chuyện tang thương,
Nghiện rượu, phụ nữ tự thắt cổ,
Dễ gặp sét đánh, chết tha hượng.

(Trổ cổng THIẾU VONG sẽ tổn thương đến người nhỏ tuổi và phụ nữ).

Phương XƯƠNG DÂM chủ dâm loạn

Nguyên văn:

XƯƠNG DÂM chi vị bất khả tu,
Tu chi đâm loạn sự vô hưu,
Thất nữ hoài thai tùy nhân tẩu,
Nhất gia đại tiểu bất tri tu.

Dịch nghĩa:

XƯƠNG DÂM phương ấy đừng xây cổng,
Xây rồi dâm loạn hại gia phong,
Con gái chửa hoang bỏ nhà trốn,
Một nhà vô sỉ chẳng ngại ngùng.

(Trổ cổng phương XƯƠNG DÂM nam nữ trong nhà ham mê tửu sắc, dâm dật vô liêm sỉ, bại hoại gia phong. Phụ nữ dâm loạn, con gái chửa hoang, gia súc hao tổn).

Phương THÂN HÔN (còn gọi là THÂN NHÂN) vượng gia nghiệp

Nguyên văn:

THÂN HÔN vị thưởng hảo tu phương,
Tu chi thân thích tận hiền lương,
Thường thời vãng lai đa cát khánh.
Kim ngân tài bảo mãn thương tương.

Dịch nghĩa:

Phương vị THÂN HÔN nên trổ công,
Họ hàng thân thích thảy hiền hòa,
Qua lại thường xuyên nhiều phúc lộc.
Châu báu, bạc vàng chất đầy kho.

(Trổ cổng phương THÂN HÔN sẽ thu hút tiền của, thêm nhân đinh. Gia súc sinh sôi. Làm ăn phát đạt).

Phương HOAN LẠC nhiều tin vui

Nguyên văn:

HOAN LẠC môn tu cánh tiến tài,
Thường hữu trưng âm nhân tống lai,
Điền tàm lục súc gia hưng vượng,
Phát phúc thanh danh hưởng tự lôi.

Dịch nghĩa:

Cổng nơi HOAN LẠC là thêm lộc,
Thường được đàn bà hiến của tiền,
Ruộng, tằm, gia súc đều sinh vượng,
Phúc đức thanh danh tựa sấm rền.

(Trổ cổng phương HOAN LẠC sẽ thu hút được tiền tài, của cải của hộ phá sản phương nam, gia súc sinh sôi, có phụ nữ tặng tiền bạc).

Phương TUYỆT MỆNH (còn gọi là BẠI TUYỆT hay TUYỆT MẠNG) hại nhân đinh

Nguyên văn:

TUYỆT MỆNH chi phương bất khả tu,
Tu chi linh lạc bất kham sầu,
Nhân đinh tổn hại vô tông tích,
Phụ tử đông tây các tự đầu.

Dịch nghĩa:

Tại phương TUYỆT MỆNH đừng xây cổng
 Xây rồi lưu lạc thật đau thương,
Nhân đinh hao hụt không tăm tích,
Cha con li tán ở đôi phương.

(Trổ cổng phương TUYỆT MỆNH chủ về phá sản, tán tài, bất lợi)

Phương VƯỢNG TÀI vượng nhân đinh

Nguyên văn:

VƯỢNG TÀI môn thượng yếu quân tri,
Phú quý thăng thiên nhiệm phát huy,
Hiền đằng nhân đinh gia nghiệp thắng,
Nhất thân phong hậu thọ tề mi.

Dịch nghĩa:

Đặt cổng VƯỢNG TÀI anh nên biết,
Phú quý thang quan thỏa vẫy vùng,
Nhân đinh vượng phát sự nghiệp thịnh,
Một đời sung túc thọ vô cùng.

(Trổ cổng phương VƯỢNG TÀI làm ra nhiều tiền của, tăng tuổi). 

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

Đọc thêm về các sao vòng Thái Tuế

 


Như ta biết hệ thống vòng sao Thái tuế có 12 sao, gồm : Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn, Thiếu âm, Quan phù, Tử Phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ, Phúc đức, Điếu khách, Trực phù. Vòng Thái tuế chính là vòng năng lượng địa chi năm sinh gắn bó chặt chẽ với vòng Trường sinh:

Coi vòng Thái tuế là vòng năng lượng thì Thái tuế chỉ sự thái quá, mạnh quá, nên ứng với vị trí Đế vượng của năng lượng. Từ đó suy ra Bạch hổ chính là vị trí Trường sinh, Phúc đức là vị trí Mộc dục, Điếu khách ở vị Quan đới, Trực phù vị Lâm quan, Thiếu dương vị trí Suy, Tang môn vị trí Bệnh, Thiếu âm vị trí Tử, Quan phù vị trí Mộ, Tử phù vị trí Tuyệt, Tuế phá vị trí Thai, Long đức vị trí Dưỡng.

 Bạch Hổ có tính chất Trường sinh rất mạnh, rất rõ, hạn gặp Bạch Hổ thường có những sự phát sinh đột ngột, mới mẻ, có hoạt động mới sinh ra, có nhiều việc phát sinh bận rộn khiến người ta phải hoạt động đến mệt mỏi.

Phúc Đức có đặc tính yếu kém, phải cầu mong sự hỗ trợ, giúp đỡ, làm phúc, đó chính là đặc tính của Mộc dục, non yếu, bại, vô lực.

Điếu Khách có tính khoe khoang khoác lác, đó là vì tương ứng vị trí Quan đới đang tiến tới, đi lên thịnh trị, gặp lúc thịnh mà ra vẻ, thể hiện.

Trực Phù ở vị Lâm quan, nhưng lại nhiều cái xấu vì nó luôn đồng cung với Thiên Kiếp, ngôi sao rủi ro, xui xẻo.

Thái Tuế vị trí Đế vượng rõ rồi, nó kích phát các tổ hợp sao rất mạnh, vì vị trí đó chứa mức năng lượng tối đa.

Thiếu Dương ứng với vị trí Suy, chú ý là Thiếu dương đi sau Thái tuế nên luôn có sao Thiên Không chỉ sự đổ vỡ suy bại rất rõ.

Tang Môn ứng với vị trí Bệnh, nên Tang Môn có tính u buồn, không hoạt bát vui vẻ, khi đang yếu mệt bệnh tật thì người ta vui sao được.

Thiếu Âm ứng với vị trí Tử, đặc tính kín đáo, khéo léo của Thiếu âm rất rõ, giống tính lý sao Tử.

Quan Phù ứng vị trí Mộ, tính lý truyền thống sao này không có ý thu tàng nhưng sau này ta sẽ thấy nó có đúng các đặc tính đó.(Điếu khách vung phí, Quan phù giữ gìn cẩn thận)

Tử Phù ứng với vị trí Tuyệt, thực tế Tử phù có ý nghĩa là buồn thảm, u uất, chính vì nó bị tuyệt khí, hết sức sống, hết năng lượng mà ra như vậy.

Tuế Phá ứng vị trí Thai, Tuế phá được cho là có hành động chống đối, phá phách, thực ra chính vì đặc tính Thai nên Tuế phá u mê tăm tối, hành vi nhầm lẫn, trái khoáy, ngược đời.

Long Đức ứng vị trí Dưỡng, điều này rất rõ, vì Long Đức có tính trợ giúp, cẩn thận, phù trì lâu dài.

Như vậy tất cả các sao trong hệ thống Thái tuế đều có một số tính lý cơ bản giống như các vị trí tương ứng của vòng Tràng sinh, với Bạch Hổ ứng vị trí Trường Sinh khởi đầu, Thái Tuế ứng vị trí Đế vượng, Quan Phù vị trí Mộ. Vậy vòng Thái tuế chính là một phản ánh của vòng năng lượng địa chi, thể hiện sự phát triển đi lên tuần tự theo chu kỳ 12 giai đoạn của mức năng lượng.

Vòng năng lượng địa chi chính là mẹ đẻ, cội rễ của vòng Thái tuế. Tam hợp Thái tuế chính là 3 vị trí Sinh, Vượng, Mộ của khối năng lượng địa chi nên có sức mạnh lớn, khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ.

Người có cung Mệnh hay Thân tại đúng cung tuổi hay trong tam hợp cung tuổi trên địa bàn Tử Vi là được hưởng Thái Tuế, một ngôi vị thịnh vượng chính đáng cho người thọ hưởng được thỏa mãn hài lòng với vị trí của chính mình.

Tuế Phù Hổ là người đáng trọng vì có tư cách nhân phẩm, không thể có đầu óc làm quấy, là người thành tâm thiện ý gánh vác trách nhiệm những công việc có tính cách lợi ích, chính nghĩa, không vị kỷ để rồi thành công đồng hưởng.

Ðây là người nghĩ đến phận sự của mình như có trách nhiệm phải làm, một khi làm thì phải làm sao cho xứng đáng với tư cách nhân phẩm, đâu cần phải có Khoa Quyền Lộc, nếu có chỉ là gấm thêu hoa.

Ðây là hạng người đáng trọng, là người tối thiểu có tư cách, từ người làm mướn cho đến tột đỉnh cao sang tùy theo địa vị thứ lớp người đó đứng trong xã hội.

Số nào Mệnh Thân đồng cung tam hợp Thái Tuế nếu có thêm Ðẩu Quân thì dầu ở trong hoàn cảnh nào cũng không phải là thường nhân ti tiện, ít ra cũng đủ bổn phận, có danh gì với núi sông.

Bốn mẫu người trong vòng Thái tuế mà theo cụ Thiên Lương tìm ra ở đây chính là :

*Một, tư tưởng, hành động, nhân phẩm chính phái. (Mệnh thân tam hợp Thái tuế – quan phù – bạch hổ). *Hai, Cuộc đời nhiều nghịch cảnh, ở vào thế bất mãn, luôn luôn đấu tranh, quật ngược lại định mệnh (Mệnh – Thân nằm trong tam hợp Tuế phá – Điếu khách – Tang môn).

*Ba, nhóm người sinh ra trước chu kỳ vận động của Mộc tinh, khôn ngoan biết nhiều, được hưởng nhiều đặc ân, nhưng luôn phải trọng thần quyền, trọng đạo đức, nếu vi phạm nguyên tắc này, thì thành quả hóa hư không, kết cục của sự thảm bại. (Mệnh – Thân lập tại tam hợp Thiếu dương – Tử phù – Phúc đức) *Bốn, nhóm người bị thua thiệt, thường lấy sự trung hậu, và tu dưỡng làm nòng cốt chủ đạo (Mệnh – Thân lập tại tam hợp Thiếu âm – Long đức – Trực phù). 

 

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Đọc thêm về các sao trong vòng Lộc tồn

 Trong tử vi, các bạn đều biết có 3 vòng sao: Thái Tuế, Lộc Tồn và Trường Sinh. 3 vòng sao đó rất quan trọng và mỗi vòng được an theo 1 cách: vòng Thái Tuế an theo địa chi của năm sinh, Vòng Lộc Tồn an theo thiên can của năm sinh và Vòng Trường Sinh bắt nguồn từ Nạp âm. Lộc Tồn không chỉ là mỗi Cát tinh mà ngoài ra sao này còn đứng đầu của cả một chòm sao có tên là chòm sao Lộc tồn. Vòng sao Lộc Tồn còn được xem như là biểu trưng cho phước lộc, an yên của đất trời. Trong đó bao gồm ân đức, tiền tài, tài lộc, vật chất và may mắn, cuối cùng là hạnh phúc. 

>CÁCH AN VÒNG LỘC TỒN – theo THIÊN CAN CỦA NĂM SINH


– GIÁP : LỘC TỒN tại DẦN

– ẤT :…………………..MÃO

– BÍNH MẬU:…………TỊ

– ĐINH KỶ:……………NGỌ

– CANH:………………THÂN

– TÂN:………………….DẬU

– NHÂM:………………HỢI

– QUÝ:………………..TÝ

An Lộc Tồn xong, cứ Dương Nam, Âm Nữ theo chiều thuận; Âm Nam, Dương Nữ theo chiều

nghịch, an các sao kế tiếp nhau, mỗi cung 1 sao:


– LỘC TỒN

– LỰC SỸ

– THANH LONG

– TIỂU HAO

– TƯỚNG QUÂN

– TẤU THƯ

– PHI LIÊM

– HỈ THẦN

– BỆNH PHÙ

– ĐẠI HAO

– PHỤC BINH

– QUAN PHÙ

 

*Tử vi cổ thư có lời giảng như sau:

Bác sỹ thông minh, Lực sỹ quyền

Thanh Long hỉ khí, Tiểu hao tiền

Tướng quân uy vũ, Tấu thư phúc

Phi liêm chủ cô, Hỉ thần diên

Bệnh phù đới tật, Hao thoái tổ

Phục binh, quan phủ khẩu thiệt triền

Sinh niên tọa thủ thập nhị sát

Phương cảm đoán nhân họa phúc nguyên.

>>CÁC SAO TRONG VÒNG LỘC TỒN

Vì mỗi sao ở trong vòng Lộc tồn đều sẽ có những tính chất cát hung khác nhau , chính điều đó đã tạo nên một cuộc sống nhân mệnh tồn tại các sắc thái muôn màu. 

-Sao Bác Sĩ trong Vòng Lộc Tồn

Ở đây Sao Bác Sĩ là một cát tinh nếu thuộc Vòng Lộc Tồn. Dưới thời đại phong kiến ngày xưa, các chức quan Bác sỹ có được đa số là nhờ vào chuyện thi cử đỗ đạt. Từ đó mà được làm việc tại những viện nghiên cứu, có thể ví như là  viện hàn lâm bây giờ vậy. Để đảm nhiệm được những công việc này thì hẳn là người đó sẽ phải có kiến thức thông hiểu, uyên bác nhiều lĩnh vực khác nhau thì mới có để được bổ nhiệm trong các viện này để đảm nhận những công việc khó. 

Ngoài việc nghiên cứu về thơ phú hay điển chương ra thì họ còn đảm nhiệm các công việc khác như làm lịch, quan sát thiên văn, hay là dự báo thời tiết hoặc  phát triển về kỹ thuật trong nông nghiệp. Cũng chính vì thế mà nét đặc trưng của sao này là trí tuệ tinh thông, am hiểu sâu sắc và tường tận nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là sở hữu năng lực kiến văn quảng bác, năng lực nghiên cứu. Những người có sao Bác Sĩ thủ mệnh thường mang đầy đủ các tư chất như đã kể trên. Không chỉ thế những người này còn mang bản chất thiện lương, trung hậu, hiền lành, hay giúp đỡ người khác khi hoạn nạn, khó khăn.

-Sao Lực Sĩ trong Vòng Lộc Tồn

Sao này cũng là một cát tinh thuộc Vòng Lộc tồn tuy nhiên lại mang những tính chất hoàn toàn khác nếu so sánh với sao Bác sĩ. Trong khi Sao Bác sĩ chỉ thiên về học vấn thông tuệ, tài giỏi thì sao Lực Sĩ này lại thiên về biểu hiện sức khỏe và thể chất. 

Những người có sao Lực Sĩ thủ mệnh đa phần sẽ có sức khỏe tương đối tốt, ăn uống khỏe mạnh, và không ngần ngại làm những công việc nặng nhọc, vất vả.

 Bên cạnh đó thì lại tồn tại một số người ăn có tật xấu từ việc ăn nhậu khỏe, hoặc trường hợp mà Lực Sĩ đồng cung với Sao Kình dương thì đường công danh sẽ khá gian nan, vất vả, tuy bỏ ra công sức nhiều, đóng góp nhiều nhưng đổi lại hưởng thụ rất ít. Họ sẽ trong tình trạng cảm thấy bất mãn vì thành quả mà mình nỗ lực làm lại không được đền đáp một cách xứng đáng. Dù sao thì sức khỏe được khỏe mạnh là một điều mà ai cũng mong muốn có được.   

-Sao Thanh Long trong Vòng Lộc Tồn

Sao Thanh Long cũng là một cát tinh, thể hiện cho may mắn, suôn sẻ và thuận lợi, niềm vui mừng, vận sự được hanh thông. Không chỉ thế mà sao Thanh Long còn chỉ về trực giác nhạy bén, linh cảm sâu sắc, sở hữu giác quan thứ sáu rất tốt, đặc biệt là có thể dự cảm được trước sự việc trong tương lai, những người có Sao Thanh Long thuộc vòng Lộc Tồn nếu như chọn theo con đường nghiên cứu khoa học thì sẽ có khả năng, triển vọng lớn. Đối với phụ nữ trẻ khi nhập hạn sẽ mang bầu hoặc sinh em bé, thường có chuyện vui về con cái.

-Sao Tiểu Hao trong Vòng Lộc Tồn

Tiểu Hao là một hao bại tinh, Sao này chỉ về những tổn thất, mất mát, chỉ sự hao hụt, tan mòn theo thời gian. Sao Tiểu Hao này có một số tính xấu đó là tiêu xài lãng phí, không suy nghĩ, theo lối vung tay quá trán do đặc điểm là hao bại tinh. Một số người khác sa vào bia rượu, cờ bạc tứ tung. 

-Sao Tướng Quân trong Vòng Lộc Tồn

Trong Vòng Lộc Tồn thì Sao Tướng quân chính là một cát tinh, sao này chỉ về quyền hành, năng lực làm việc, sự uy tín trong cuộc sống. Những người có sao Tướng Quân thủ mệnh chủ về tháo vát, có khả năng lãnh đạo, quản lý tốt vì thế mà họ thường nắm giữ chức vụ khá cao hoặc tạo dựng nên thương hiệu hay danh tiếng có uy tín lớn trong nghề, sức cạnh tranh cũng rất tốt. 

Trong Tử vi, Sao Tướng quân luôn đồng cung hoặc tam hội chiếu cùng với sao Quốc Ấn, phần nhiều chủ về danh vọng, quyền hành, sự uy tín. Nếu như người có bộ sao này khi gặp hạn sẽ có khả năng nhận bằng khen, cơ hội thăng tiến cao hoặc thay đổi công việc.

 -Sao Tấu Thư trong Vòng Lộc Tồn

Tấu thư trong Vòng Lộc Tồn cũng là một sao Cát tinh, chỉ về năng lực viết lách tốt, sự khéo léo, hùng biện, tranh luận giỏi. Nếu là nữ mệnh thì chỉ về nữ công gia chánh, khéo léo trong chuyện thêu thùa, may vá trong gia đình. 

Khi nhập hạn có sao Tấu Thư thì thường sẽ xảy ra những việc xấu như liên quan đến giấy tờ như mua bán xe, mua bán nhà đất, bất động sản, hoặc phải đóng thuế, thanh tra kiểm tra, lập viên bản khi tham gia giao thông. 

-Sao Hỷ Thần trong Vòng Lộc Tồn

Hỷ Thần chính là sao Cát tinh mang tính chất là chỉ về sự vui vẻ, hài hước, tính nết hòa nhã, đặc biệt là có có tài làm nghệ thuật, khả năng kinh doanh tốt trong lĩnh vực giải trí. Một số người khác thì thích nhậu nhẹt, tiệc tùng, ham vui vẻ, càng về già thì sao Hỷ Thần này lại thiên chỉ về bệnh trĩ do hậu quả của việc ăn chơi, nhậu nhẹt vô độ.

 -Sao Bệnh Phù trong Vòng Lộc Tồn

Bệnh Phù trong Lộc tồn mang những tính chất gần giống với tính chất của sao Bệnh thuộc vòng Trường sinh. Sao này chỉ về người có tình trạng suy nhược, tinh thần và thể chất yếu đuối, yếu kém.

 -Sao Đại Hao trong Vòng Lộc Tồn

Sao Đại Hao Cùng với Sao Tiểu hao, sao này chỉ sự lãng phí, hao tốn tiền của và rất khó trong việc quản lý chi tiêu, họ không biết sử dụng tiền một cách hợp lý, cộng thêm tính cách thích ăn chơi, ham vui, chỉ biết hưởng thụ và do dự trong công việc. 

 -Sao Phục Binh trong Vòng Lộc Tồn

Tính chất của Sao Phục Binh là hai mặt. Trường hợp được hội hợp tốt thì sẽ là người chủ về túc trí đa mưu, có thuộc cấp hay quân cán ủng hộ, còn trường hợp hội hợp xấu thì chủ về tính chất xảo quyệt, gian phi, thậm chí lừa gạt gian manh, trộm vặt.

Sao Phục Binh khi nhập hạn, nếu được cát lợi thì là người nắm được quyền hành, được người khác gửi lời mời tham gia cộng tác chung, còn nếu xấu thì nhiều khả năng sẽ bị lừa gạt hay mất trộm linh tinh.

 -Sao Quan Phù trong Vòng Lộc Tồn

Sao Quan Phù này là một sao xấu, phần lớn sẽ chỉ về vấn đề mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp, thậm chí có khi dây dưa vào pháp luật, gặp phiền phức và trở ngại về thủ tục hành chính.